CHƯƠNG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY NHA NƯỚC ĐÓI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VÓN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP.1 NHUNG VAN DE CHUNG VE QUAN LY NHA NUGC DOI VOI DOANH NGHIỆP CÓ VÓN ĐÀU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài a. Khái niệm đầu tr trực tiếp nước ngoài Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về đầu tư trực tiếp nước. Mỗi quan điểm đều cố gắng khái quát hoá bản chất và nhấn mạnh đến một khía cạnh nào đó của FDI.
Một số khái niệm như sau: Theo Synthia Day, Wallace dua ra khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể định nghĩa theo nghĩa rộng là “việc thiết lập hay giành được. quyền sở hữu đáng kẻ trong một loạt công ty ở nước ngoài hay sự gia tăng. khối lượng của một khoảng đầu tư nước ngoài nhằm đạt được quyền sở hữu đáng kẻ”. Khái niệm này nhấn mạnh đến quyền sở hữu.
Ủy ban Liên hợp Quốc về Thương mại và phát triển (UNCTAD) định nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài “là một khoản đầu tư bao gồm mỗi quan hệ trong dai hạn, phản ánh lợi ích và quyễn kiểm soát lâu dài của một thực thể thường trú ở một nên kinh tế (nhà đâu tư nước ngoài hoặc công ty mẹ nước ngoài) trong một doanh nghiệp thường trú ớ một nên kinh tế khác với nên kinh tế của nhà đâu tư mước ngoài (doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trực tiếp, doanh nghiệp liên doanh hoặc chỉ nhánh nước ngoài)”. Khái niệm do Quỹ tiền tệ quốc tế (IME) đưa ra năm 1997 được chấp. nhận khá rộng rãi về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: “số vốn đẩu fư. “được thực hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động 12 ở nên kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu ae.
Mục đích của nhà đầu ae là có được tiếng nói hiệu lực và đạt hiệu quả cao trong quản lý doanh nghiệp " [26, tr1]. Khái niệm này cho thấy, sự khác nhau cơ bản giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài với đầu tư gián tiếp là mục đích của các nhà đầu tư. Mục đích của đầu tư trực tiếp nước ngoài là ngoài việc thu lợi nhuận, còn tính. đến việc tham gia quản lý doanh nghiệp và phải có được hiệu quả cao trong.
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (năm 1996) đã nêu: “Đâu tư trực. tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiển hoặc bắt kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này” [1 tr. Luật Đầu tư năm 2005 đưa ra khái niệm đầu tư nước ngoài như sau: °Đầu rư nước ngoài là việc nhà đầu tư mước ngoài đưa vào Việt Nam vồn bằng tiên và các tài sản hợp pháp khác để tiền hành hoạt động đâu te" [1, khoản 1, Điều 3]. Luật đầu tư năm 2014 không đề cập cụ thể đến khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài mà chỉ đưa ra khái niệm nhà đầu tư nước ngoài, đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp.
Hai khái niệm trên được hiểu: “đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”, “đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua. việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán va thông qua các định chế tài chính trung gian khác mã nha 'tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư”. Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 có một số khái niệm về đầu tư, kinh. doanh, đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: ~ “Dự án đâu tư là tập hợp đề xuất bó vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa ban cu thé trong khoảng, thời gian xác định” ~ "Đâu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đâu tư để thực hiện 13 hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế: đầu tư góp vốn, mua cổ phẩn, phân vốn góp của tổ chức kinh tế; đâu tư theo hình thức.
hợp đẳng hoặc thực hiện dự án đâu tư. - "Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, gằm nhà đâu tư trong nước, nhà đầu tu nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ”. ~ “Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh: tại Việt Nam”. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài Dù có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng xét về bản chất, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại hình di chuyển vốn quốc tế trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người quản lý và đi hành các hoạt động sử dụng vốn.
Đề tham gia trực tiếp vào việc quản lý và điều hành các hoạt động. sử dụng vốn, nhà đầu tư nước ngoài phải có vốn và thực hiện theo các hình. 'thức đầu tư do pháp luật nước tiếp nhận đầu tư quy định. Điều đó có nghĩa là, trong đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài sẽ sử dụng vốn, tài sản, kinh nghiệm, uy tín và nhãn hiệu sản phẩm của mình để tiến hành các.
hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nước tiếp nhận đầu tư nhằm thu lợi nhuận và để đạt được những mục tiêu của mình. Đây là hình thức xuất khẩu vốn, một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hoá. Sau khi xem xét các khái niệm về đầu tư nước ngoài và cùng với nội dung nêu trên, ta có thể thấy đầu tư trực tiếp nước ngoài có các đặc trưng sau: ~ Đầu tư trực tiếp nước ngoài không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư nhưng có đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế và là một bộ phận hữu cơ. trong cơ cấu đầu tư của nền kinh tế nước tiếp nhận đầu tư, 14 ~ Trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, có sự thiết lập quyền sở hữu về vốn của công ty ở một nước khác; đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện bằng vốn của cá nhân hoặc nhóm nhiều cá nhân hoặc của công ty mẹ và do họ (các chủ đầu tư) tự quyết định đầu tư, tự chịu trách nhiệm về các khoản lỗ, lãi.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài phát triển gắn liền với sự ra đời và hoạt động của các công ty đa quốc gia; ~ Đầu tư trực tiếp nước ngoài có mục tiêu, nhiệm vụ rõ ràng nhằm mở. rộng, chiếm lĩnh thị trường của các công ty đa quốc gia và thu về lợi nhuận tối đa cho nhà đầu tư; - Đầu tư trực tiếp nước ngoài có sự kết hợp giữa quyền sở hữu với quyền quản lý các nguồn vốn đã được đầu tư. Trong hình thức đầu tư gián tiếp (góp ví , mua cỗ phần) nhà tư không trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp, còn trong đầu tư trực tiếp, nhà đầu tư nước ngoài chính là chủ đầu tư nên họ trực tiếp điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư (nếu là doanh. nghiệp 100% vốn nước ngoài của họ) hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh (nếu thực hiện đầu tư theo hình thức liên doanh và mức độ tham gia quản lý tuỳ theo tỷ lệ góp vốn của mình); ~ Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể kèm theo việc chuyển.
giao công nghệ và kỹ năng quản lý. Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước tiếp nhận đầu tư có th nhận được công nghệ, kỹ thuật tiên học hỏi kinh nghiệm quản lý. Vì vậy, các nước tiếp nhận đầu tư mong. muốn hình thức đầu tư trực tiếp.
Đây là những mục tiêu mà các hình thức. đầu tư khác không giải quyết được; ~ Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài gắn liền với sự phát triển của. thị trường tải chính quốc tế và thương mại quốc tế, Trong hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài, các công ty mẹ thường chuyển giao vốn của mình qua các công ty con để thực hiện dự án đầu tư tại nước tiếp nhận đầu tư. Do đó, 15 đầu tư trực tiếp nước ngoài có liên quan chặt chẽ với dòng lưu chuyển vốn quốc tẾ Qua phân tích những đặc trưng trên, chúng ta có thể thấy được bản chất thực sự và những lợi thế của hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài trong phát triển kinh tế của từng quốc gia nói riêng và của nền kinh tế thế giới nói chung.
Hiện nay, trong bối cảnh hầu hết nền kinh tế của các nước hoạt động theo cơ chế kinh tế thị trường, xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa kinh tế ngày càng phổ biến và diễn ra với tốc độ nhanh, khoa. học- kỹ thuật, công nghệ đạt đến trình độ phát triển cao. thì đầu tư trực tiếp nước ngoài được sử dụng như một trong những hình thức hợp tác kinh tế, phương tiện thực hiện phân công lao động quốc tế, và được xem là một trong các điều kiện quyết định sự phát triển của. Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
a) Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 thì “đoanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng kj thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” [17, khoản T, Điều 4] Khoản 6 Điều 3 của Luật Đầu tư 2005 định nghĩa “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gôm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tự tại Việt Nam hoặc là doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tự nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại. Như vậy, doanh nghiệp Việt Nam chỉ cần có I cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài sẽ được coi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Doanh nghiệp EDI là một hình thức tổ chức kinh doanh, trong đó có một bên hoặc các bên mang quốc tịch khác nhau cùng góp vốn, cùng quản lý 16 cơ sở kinh tế đó vì mục tiêu sinh lời, phù hợp với các quy định luật pháp của nước tiếp nhận đầu tư và thông lệ quốc tế. 5) Đặc điểm của doanh nghiệp có vốn đầu te trực tiếp nước ngoài - Doanh nghiệp FDI là những tô chức kinh doanh có yếu tố quốc tế, thuộc một phần sở hữu nước ngoài (doanh nghiệp liên doanh) hoặc thuộc toàn bộ sở hữu nước ngoài (doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài).