Luận văn: Phát triển đối tượng tham gia BHYT hộ gia đình tại tỉnh Quảng Bình

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu quản lý kinh tế phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn tỉnh quảng bình, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên

Chuyên ngành

Kinh Tế Phát Triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

115
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan phát triển BHYT hộ gia đình tại tỉnh Quảng Bình

Bảo hiểm y tế (BHYT) là một trụ cột chính trong hệ thống chính sách an sinh xã hội của Việt Nam, giữ vai trò then chốt trong việc bảo vệ sức khỏe và ổn định cuộc sống người dân. Đặc biệt, BHYT hộ gia đình là hình thức bảo hiểm mang tính tự nguyện, hướng đến mục tiêu bao phủ toàn dân. Việc phát triển đối tượng tham gia loại hình này là một nhiệm vụ cấp thiết. Luận văn "Phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Quảng Bình" của tác giả Nguyễn Thị Thùy Trang đã cung cấp một cái nhìn sâu sắc về chủ đề này. Nghiên cứu tập trung vào giai đoạn 2016-2018, phân tích các cơ sở lý luận về quản lý kinh tế BHYT và thực tiễn triển khai tại địa phương. Phát triển đối tượng tham gia không chỉ là gia tăng số lượng người có thẻ BHYT. Nó còn bao gồm việc mở rộng cơ cấu đối tượng, từ nông dân, lao động tự do đến các nhóm yếu thế khác. Quá trình này đòi hỏi sự thay đổi về chất lượng dịch vụ, sự đa dạng của sản phẩm và hiệu quả của mạng lưới phân phối. Mục tiêu cuối cùng là đảm bảo tính bền vững của quỹ BHYT và tiến tới BHYT toàn dân, góp phần thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khỏe. Tại Quảng Bình, chính sách này đã nhận được sự quan tâm đặc biệt, với mục tiêu đạt trên 92% dân số tham gia BHYT vào năm 2020. Nghiên cứu này là tài liệu tham khảo quan trọng cho Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Bình và các cơ quan liên quan trong việc hoạch định chiến lược phát triển đối tượng tham gia BHYT hộ gia đình trong giai đoạn tiếp theo.

1.1. Vai trò của BHYT trong giảm nghèo và an sinh xã hội

Bảo hiểm y tế có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự ổn định kinh tế - xã hội. Nó không chỉ là công cụ tài chính giúp người dân giảm bớt gánh nặng chi phí khi ốm đau, bệnh tật mà còn là một chính sách thể hiện tính nhân văn sâu sắc. Vai trò của BHYT trong giảm nghèo được thể hiện rõ nét. Khi một thành viên trong gia đình mắc bệnh hiểm nghèo, chi phí y tế có thể đẩy cả hộ gia đình vào cảnh bần cùng. Thẻ BHYT hoạt động như một tấm lá chắn tài chính, giúp họ tiếp cận các dịch vụ y tế kỹ thuật cao mà không phải lo lắng về chi phí. Nguyên tắc hoạt động của quỹ BHYT là “số đông bù số ít”, mang tính chia sẻ rủi ro trong cộng đồng. Điều này giúp tái phân phối thu nhập một cách gián tiếp, người khỏe mạnh hỗ trợ người ốm đau, người có thu nhập cao hơn chia sẻ với người có thu nhập thấp. Việc phát triển đối tượng tham gia BHYT tự nguyện theo hộ gia đình góp phần thực hiện công bằng xã hội, đảm bảo mọi người dân, không phân biệt giàu nghèo, đều được chăm sóc sức khỏe bình đẳng.

1.2. Khái niệm và tiêu chí phát triển đối tượng tham gia BHYT

Phát triển đối tượng tham gia BHYT hộ gia đình là quá trình thay đổi theo cả chiều rộng và chiều sâu. Theo chiều rộng, đó là việc gia tăng số lượng người tham gia, mở rộng độ bao phủ đến các nhóm dân cư chưa tham gia như lao động tự do, nông dân. Theo chiều sâu, đó là việc nâng cao chất lượng dịch vụ, đa dạng hóa sản phẩm và đảm bảo tính bền vững. Các tiêu chí đánh giá sự phát triển bao gồm: gia tăng quy mô (số lượng và tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế), phát triển sản phẩm (đa dạng hóa gói quyền lợi), phát triển mạng lưới (đại lý thu, cơ sở KCB) và phát triển chất lượng (mức độ hài lòng của người tham gia). Việc phát triển này phải dựa trên sự nắm vững các yếu tố ảnh hưởng đến tham gia BHYT, bao gồm nhận thức của người dân, năng lực của bộ máy BHXH, và bối cảnh kinh tế - xã hội địa phương. Một mô hình BHYT hộ gia đình hiệu quả cần kết hợp đồng bộ các yếu tố này để thu hút người dân tham gia một cách tự nguyện và bền vững.

II. Khó khăn khi mở rộng đối tượng BHYT hộ gia đình Quảng Bình

Mặc dù đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, công tác phát triển đối tượng tham gia BHYT hộ gia đình tại Quảng Bình giai đoạn 2016-2018 vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Thực trạng tham gia BHYT hộ gia đình cho thấy sự phát triển chưa đồng đều và thiếu bền vững. Một trong những khó khăn trong việc mở rộng đối tượng BHYT lớn nhất là nhận thức của một bộ phận người dân còn hạn chế. Nhiều người vẫn có tâm lý "chỉ khi ốm mới mua BHYT", dẫn đến tình trạng lựa chọn ngược, gây áp lực lên quỹ KCB. Bên cạnh đó, thu nhập của người dân ở nhiều khu vực, đặc biệt là vùng nông thôn, miền núi, còn thấp và không ổn định, khiến việc dành một khoản tiền để tham gia BHYT cho cả gia đình trở nên khó khăn. Công tác tuyên truyền dù đã được quan tâm nhưng chưa thực sự đi vào chiều sâu, chưa làm thay đổi triệt để nhận thức về tính ưu việt của chính sách. Năng lực của một số đại lý thu còn hạn chế, chưa đủ kỹ năng vận động, thuyết phục người dân. Sự phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể đôi khi chưa đồng bộ, làm giảm hiệu quả của các chiến dịch vận động. Những hạn chế này là rào cản lớn trên con đường tiến tới mục tiêu BHYT toàn dân tại địa phương, đòi hỏi cần có những giải pháp đột phá và phù hợp với thực tiễn.

2.1. Phân tích thực trạng tham gia BHYT hộ gia đình 2016 2018

Số liệu từ Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Bình cho thấy một bức tranh đa chiều. Giai đoạn 2016-2018 chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc về số người tham gia BHYT hộ gia đình, tăng 107.454 người, tương ứng 169% so với năm 2016. Đến cuối năm 2018, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn tỉnh đạt 94,36%. Tuy nhiên, sự gia tăng này không đồng đều giữa các địa phương. Các huyện như Bố Trạch, Quảng Trạch có sự tăng trưởng đột biến, trong khi thành phố Đồng Hới lại có mức tăng chậm hơn. Một vấn đề đáng lo ngại là tình trạng mất cân đối thu-chi của quỹ BHYT dành cho nhóm đối tượng này. Dữ liệu cho thấy số thu chỉ đáp ứng khoảng 66,66% số chi KCB, phần còn lại phải do các nhóm đối tượng khác bù đắp. Điều này cho thấy tính rủi ro cao khi phần lớn người tham gia là người đã có bệnh hoặc có nguy cơ mắc bệnh cao, trong khi những người khỏe mạnh lại chưa tích cực tham gia.

2.2. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHYT

Quyết định tham gia BHYT của một hộ gia đình chịu tác động từ nhiều yếu tố phức hợp. Đầu tiên là yếu tố kinh tế, thu nhập của hộ gia đình là điều kiện tiên quyết. Thứ hai là nhận thức, sự hiểu biết về quyền lợi, ý nghĩa và tính chia sẻ của chính sách. Công tác truyền thông đóng vai trò then chốt trong việc hình thành nhận thức này. Thứ ba là chất lượng dịch vụ y tế. Nếu người dân cảm thấy hài lòng với chất lượng khám chữa bệnh BHYT, thủ tục thuận tiện, thái độ phục vụ tốt, họ sẽ có động lực tham gia và duy trì. Ngược lại, những trải nghiệm không tốt sẽ tạo ra rào cản tâm lý. Bên cạnh đó, các yếu tố ảnh hưởng đến tham gia BHYT còn bao gồm đặc điểm dân cư, tập quán sinh hoạt và sự quyết liệt trong chỉ đạo của chính quyền địa phương. Việc phân tích kỹ lưỡng các yếu tố này là cơ sở để xây dựng các giải pháp phát triển BHYT tại Quảng Bình một cách hiệu quả.

III. Giải pháp nâng cao nhận thức về BHYT cho mọi hộ gia đình

Để giải quyết gốc rễ vấn đề, việc nâng cao nhận thức về BHYT phải được đặt lên hàng đầu. Đây là giải pháp mang tính nền tảng, quyết định sự thành công của lộ trình tiến tới BHYT toàn dân. Một chiến lược truyền thông hiệu quả cần được xây dựng một cách bài bản, đa dạng về hình thức và phù hợp với từng nhóm đối tượng. Nội dung tuyên truyền cần đơn giản, dễ hiểu, tập trung vào lợi ích thiết thực mà người dân nhận được, nhấn mạnh tính nhân văn và sự chia sẻ cộng đồng. Thay vì chỉ tuyên truyền chung chung, cần có những câu chuyện thực tế, những trường hợp cụ thể được quỹ BHYT chi trả chi phí lớn để minh họa. Các kênh truyền thông cần được tận dụng tối đa, từ truyền thống như loa phát thanh xã, phường, báo đài địa phương, đến các kênh hiện đại như mạng xã hội, website của Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Bình. Sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, từ cấp ủy, chính quyền đến các tổ chức đoàn thể như Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên là yếu tố không thể thiếu. Họ chính là những tuyên truyền viên gần gũi và hiệu quả nhất tại cơ sở, giúp đưa chính sách BHYT đến từng ngõ, gõ từng nhà. Mục tiêu là biến việc tham gia BHYT từ trách nhiệm thành quyền lợi và nhu cầu tự thân của mỗi người dân.

3.1. Đổi mới nội dung và phương pháp tuyên truyền chính sách

Công tác tuyên truyền cần thoát khỏi lối mòn hành chính, khô khan. Thay vào đó, cần xây dựng các thông điệp gần gũi, tập trung vào việc "giải quyết nỗi lo" của người dân. Ví dụ, nhấn mạnh BHYT là "của để dành cho sức khỏe", là "phao cứu sinh tài chính" khi không may ốm đau. Các hình thức tuyên truyền cần đa dạng hóa: tổ chức các buổi đối thoại trực tiếp tại cộng đồng dân cư, sân khấu hóa, các cuộc thi tìm hiểu về chính sách BHYT, phát tờ rơi với thiết kế trực quan, sinh động. Đặc biệt, cần phát huy vai trò của những người có uy tín trong cộng đồng như già làng, trưởng bản, chức sắc tôn giáo để vận động người dân. Việc xây dựng một đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên cấp cơ sở được tập huấn chuyên nghiệp về cả kiến thức và kỹ năng mềm là giải pháp cần được ưu tiên để đảm bảo thông tin được truyền tải chính xác và thuyết phục.

3.2. Phát triển mạng lưới đại lý thu BHYT chuyên nghiệp hiệu quả

Mạng lưới đại lý thu là "cánh tay nối dài" của cơ quan BHXH, là điểm tiếp xúc trực tiếp và thường xuyên nhất với người dân. Do đó, việc củng cố và nâng cao chất lượng của mạng lưới này là một giải pháp chiến lược. Cần mở rộng hệ thống đại lý thu đến tận thôn, bản, tổ dân phố, đặc biệt là thông qua hệ thống Bưu điện, các tổ chức đoàn thể. Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Bình cần thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, cập nhật chính sách mới và trang bị kỹ năng giao tiếp, tư vấn cho nhân viên đại lý. Đồng thời, cần có cơ chế đãi ngộ, khen thưởng hợp lý để khuyến khích, động viên những đại lý hoạt động tích cực, hiệu quả. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hệ thống đại lý, cho phép người dân đóng tiền và gia hạn thẻ BHYT trực tuyến cũng là một hướng đi cần thiết để tạo sự thuận tiện tối đa, qua đó thu hút thêm nhiều người tham gia BHYT tự nguyện.

IV. Phương pháp phát triển BHYT tại Quảng Bình một cách bền vững

Để phát triển đối tượng tham gia BHYT hộ gia đình một cách bền vững, không thể chỉ dựa vào các chiến dịch tuyên truyền ngắn hạn mà cần một hệ thống các giải pháp đồng bộ và dài hạn. Trọng tâm là xây dựng một mô hình BHYT hộ gia đình hiệu quả, phù hợp với đặc thù kinh tế - xã hội của từng vùng miền trong tỉnh. Đối với khu vực thành thị, cần tập trung vào sự tiện lợi, ứng dụng công nghệ. Đối với khu vực nông thôn, miền núi, cần có sự hỗ trợ, hướng dẫn trực tiếp và các chính sách linh hoạt. Một trong những giải pháp quan trọng là nâng cao chất lượng khám chữa bệnh (KCB). Sự hài lòng của người dân là yếu tố giữ chân và thu hút người tham gia tốt nhất. Điều này đòi hỏi sự đầu tư vào cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, nâng cao trình độ chuyên môn và y đức của đội ngũ y bác sĩ. Đồng thời, cần cải cách thủ tục hành chính trong KCB BHYT, giảm thời gian chờ đợi, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người bệnh. Việc đa dạng hóa sản phẩm BHYT, nghiên cứu các gói dịch vụ bổ sung phù hợp với khả năng chi trả và nhu cầu của các nhóm dân cư khác nhau cũng là một hướng đi tiềm năng, giúp gia tăng sự hấp dẫn của chính sách an sinh xã hội này.

4.1. Gia tăng quy mô và cải thiện cơ cấu đối tượng tham gia

Mục tiêu không chỉ là tăng số lượng mà còn là cải thiện cơ cấu người tham gia, khuyến khích những người trẻ, khỏe mạnh tham gia để đảm bảo sự cân bằng của quỹ. Để làm được điều này, cần có sự chỉ đạo quyết liệt từ UBND các cấp, giao chỉ tiêu phát triển đối tượng cụ thể cho từng địa phương, từng đơn vị. Kinh nghiệm phát triển BHYT từ các địa phương khác cho thấy vai trò của việc lập danh sách hộ gia đình chưa tham gia BHYT tại cấp xã là vô cùng quan trọng. Từ danh sách này, các tổ chức đoàn thể, đại lý thu có thể tiếp cận, vận động một cách có mục tiêu. Chính sách giảm trừ mức đóng khi tham gia theo hộ gia đình cần được phổ biến rộng rãi hơn nữa để người dân thấy được lợi ích kinh tế rõ ràng. Đây là cách hiệu quả để tăng tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế một cách thực chất và bền vững.

4.2. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và dịch vụ BHYT

Chất lượng dịch vụ là yếu tố cốt lõi. Cơ quan BHXH cần tăng cường công tác giám định BHYT, đảm bảo quyền lợi cho người tham gia, ngăn chặn tình trạng lạm dụng, trục lợi quỹ. Ngành Y tế cần tiếp tục đầu tư nâng cấp các cơ sở KCB, đặc biệt là y tế tuyến cơ sở, để người dân có thể tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng ngay tại địa phương. Việc công khai, minh bạch thông tin về quyền lợi, danh mục thuốc, vật tư y tế được BHYT chi trả cũng rất cần thiết. Bên cạnh đó, việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin như thẻ BHYT điện tử, ứng dụng VssID - Bảo hiểm xã hội số sẽ giúp nâng cao trải nghiệm của người dùng, tạo sự tin tưởng và khuyến khích người dân tham gia vào hệ thống BHYT toàn dân.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn tỉnh quảng bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: Cơ sở lý luận về phát triể ¡ tượng tham gia bảo hiểm y tế hộ gia đình Chương 2: Thực trạng phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Quảng Bình Chương 3: Giải pháp phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE PHAT TRIEN DOI TUQNG THAM GIA BAO HIEM Y TE HQ GIA DINH 1. KHÁI QUAT VE BAO HIEM Y TE HQ GIA ĐÌNH 1. Khái niệm bảo hiểm y tế hộ gia đình a.

Bảo hiểm y tế Trên thế giới hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về BHYT, nhưng mục đích chung của BHYT đều giống nhau đó là việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho người tham gia BHYT khi bị ốm đau, bệnh tật. Khái niệm bảo hiểm y tế, theo Từ điển bách khoa Việt Nam, “là /oại bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân”. Việt Nam, cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới, thừa nhận quan điểm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) với cách tiếp cận BHYT là “một nội dung thuộc an sinh xã hội và là loại hình báo hiểm phi lợi nhuận, nhằm đám bảo chỉ phí y tế cho người tham gia khi gặp rủi ro, m đau, bệnh tật ”. Từ thực tế triển khai ở các nước và vận dụng vào điều kiện Việt Nam, khái niệm về BHYT đã được hình thành theo thời gian như sau: Theo Nghị định số 299/HĐBT ngày 15/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành kèm theo Điều lệ BHYT: “BHYT đo nhà nước tổ chức quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để tăng cường chất lượng trong việc khám bệnh, chữa bệnh.

Theo Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 của Chính phủ Ban hành Điều lệ BHYT thay thế Nghị định số 58/1998/NĐ-CP. Khái niệm về BHYT được hiểu như sau: “BHYT Ia m6t chính sách xã hội do Nhà nước tổ 10 chức thực hiện, nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, NLD, cdc tổ chức và cá nhân, để thanh toán chỉ phí khám, chữa bệnh cho người có thẻ BHYT khi ôm đau. BHYT theo điều lệ này mang tính xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận, hướng tới mục tiêu công bằng, hiệu quả trong khám, chữa bệnh và toàn dân tham gia. Luật BHYT số 25/2008/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14/11/2008 lại nêu: "8/JYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia"[12]- Nhu vay, BHYT là một chính sách xã hội do nhà nước tô chức thực hiện với mục đích huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, NLĐ, các tổ chức và các cá nhân có nhu cầu được bảo hiểm, từ đó hình thành nên một quỹ và quỹ này sẽ được dùng để chỉ trả chỉ phí KCB, khi một người nào đó không may mắc phải bệnh.

BHYT ra đời xuất phát từ nhu cầu tất yếu của con người về một cơ chế mang tính xã hội trên diện rộng để chia sẻ tôn thất khi ốm đau, bệnh tật với sự đảm bảo của Nhà nước. Cho tới nay, trong quá trình con người phòng ngừa và chống chọi với những rủi ro sức khỏe - vốn là loại rủi ro thường xuyên của con người thì BHYT được xem như một công cụ tương trợ cộng đồng văn minh, phô biến và hữu hiệu nhắt.Ngoài ra, BHYT cũng góp phần quan trọng đảm bảo quyền con người trong lĩnh vực sức khỏe, giúp người dân mở rộng cơ hội tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế, chống lại bệnh tật, đói nghèo, qua đó thực hiện An sinh xã hội, phát triển kinh tế quốc gia. Bảo hiễm y tế hộ gia đình Theo quy định tại Khoản 5 Điều 12 Luật BHYT sửa đồi, bổ sung một số điều thì những người tham gia BHYT tự nguyện trước đây sẽ thuộc diện tham 1I gia BHYT theo hộ gia đình từ tháng 01/2015. Khoản 7 Điều 2 Luật Sửa đi bổ sung một số điều của Luật BHYT cũng quy định: “/fộ gia đình tham gia BHYT (sau đây gọi chung là hộ gia đình) bao gồm toàn bộ người có tên trong số hộ khẩu hoặc sổ tạm trứ"[13] và Khoản 3 Điều § quy định rõ: “U8ND cấp xã có trách nhiệm lập danh sách người tham gia BHYT hộ gia đình ".

Khoản 1 Điều 13 Nghị định 105/2014/NĐ-CP ngày 15/11/2014 quy định: “8ô Y đế có trách nhiệm hướng dẫn UBND cấp xã lập danh sách hộ gia đình tham gia BHYT". Có thể nói BHYT hộ gia đình ở Việt Nam là hình thức BHYT được thực hiện cho toàn bộ người dân chưa có thẻ BHYT bắt buộc, chưa có thẻ BHYT thuộc các đối tượng khác (thuộc diện ưu đãi của Nhà nước; như trẻ em dưới 6 tuôi, người có công, thân nhân người có công.),BHYT hộ gia đình triển khai theo từng hộ gia đình. Đặc điểm bảo hiểm y tế hộ gia đình a. Về đối tượng tham gia Nhằm mục đích tăng độ bao phủ BHYT, nhà nướcta luôn khuyến khích.

mọi hộ gia đình tham gia BHYT. Theo quy định của Luật BHYT thì “&ửử các hộ gia đình tham gia phải bắt buộc toàn thành viên trong hộ phải tham gia (trừ các thành viên đã tham gia BHYT theo các đối tượng khác) và được giảm trừ mức đóng từng thành viên "[12]- BHYT hộ gia đình áp dụng đối với mọi đối tượng có nhu cầu tự nguyện tham gia BHYT. Đối tượng tham gia BHYT hộ gia đình là những NLD tu do, nông dân, thợ thủ công. những người có thu nhập không ổn định hoặc thu nhập theo mùa vụ.

Những người này muốn tham gia BHYT phải tự bỏ tiền, không có sự hỗ trợ của Nhà nước hoặc có sự hỗ trợ một phần kinh phí của Nhà nước. Ở nước ta trong những năm qua, mặc dù người dân tham gia BHYT hộ gia đình đều phải tự bỏ tiền mua thẻ nhưng một số năm trở lại đây 12 ở một số địa phương như Hà Tĩnh, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng. đã có sự hỗ trợ của Ngân sách Nhà nước. Về phạm vi, BHYThộ gia đình ở Việt Nam thực hiện việc khám, chữa bệnh ngoại trú và điều trị nội trú.Về mức đóng, phương thức đóng Căn cứ theo Khoản 1 Điều 7 và Điều 9 Nghị định 146/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật BHYT, mức đóng và phương thức đóng BHYT của đối tượng hộ gia đình được quy định như sau: * Mức đồng - Mức đóng của đối tượng BHYT hộ gia đình được quy định theo từng thời kỳ, trên cơ sở quy định của Chính phủ về mức lương cơ sở từng thời kỳ.

Tuy nhiên, khác với các đối tượng tại các nhóm 1, 2, 3 và 4 được NSNN đóng 100% mức đóng BHYT hoặc hỗ trợ 30-70% mức đóng BHYT, thì nhóm hộ gia đình không được NSNN hỗ trợ mức đóng, lại được giảm trừ mức đóng từng người, tham gia nhiều người thì mức giảm trừ càng cao, nhằm khuyến khích người dân tham gia BHYT đầy đủ, cụ thể: - “Mức dong hing thang bing 4,5% mức lương cơ sở do đối tượng hộ gia đình đóng và được giảm mức đóng như sau: + Người thứ nhất đóng 100% mức quy định; + Người thứ hai, thứ ba, thứ tư đóng lần lượt bằng 70%, 60%, 50% mức. đóng của người thứ nhất; + Từ người thứ năm trở đi đóng bằng 40% mức đóng của người thứ nhất "[12] *Phương thức đóng Định kỳ 3 tháng, 6 tháng hoặc 12 tháng, người đại diện của hộ gia đình trực tiếp nộp tiền đóng BHYT phần thuộc trách nhiệm phải đóng cho Đại lý thu BHYT tại cấp xã. Về quyền lợi khám chữa bệnh bảo hiểm y tế Người tham gia BHYT hộ gia đình sẽ được hưởng các quyền lợi sau: ~ Được cấp thẻ BHYT. ~ Được lựa chọn một cơ sở y tế thuận lợi theo hướng dẫn của cơ quan BHXH để đăng ký khám chữa bệnh ban dai „ được đổi nơi đăng ký ban đầu.

- Được quỳ BHYT chỉ trả các chỉ phí sau: khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng, khám thai định kỳ và sinh con. ~ Được quỳ BHYT thanh toán chỉ phí đi khám, chữa bệnh: - Trong trường hợp người tham gia BHYT hộ gia đình đi khám chữa bệnh đúng quy định: + Được quỹ BHYT thanh toán 80% chỉ phí khám, chữa bệnh, người bệnh cùng chỉ trả 20%. + Được quỹ BHYT thanh toán 100% chỉ phí khám, chữa bệnh đối với trường hợp chỉ phí cho một lần khám bệnh, chữa bệnh thấp nhất 15% mức lương cơ sở (181.500 đồng thời điểm tháng 9/2016) hoặc khám bệnh, chữa bệnh tại tuyến xã. + Được quỹ BHYT thanh toán 100% chỉ phí khám, chữa bệnh khi người bệnh có thời gian tham gia BHYT 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cũng chỉ trả chỉ phí khám bệnh, chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở.

+ Người tham gia BHYT hộ gia đình liên tục từ 36 tháng trở lên khi sử dụng thuốc điề ¡ ung thư, thuốc chống thải ghép ngoài danh mục do Bộ Y tế quy định nhưng đã được phép lưu hành tại Việt Nam và theo chỉ định của cơ sở KCB, quỹ BHYT thanh toán 50% chỉ phí thuốc theo mức hưởng của từng đối tượng. ~ Người tham gia BHYT khi đi khám chữa bệnh không đúng tuyến: Quỹ BHYT thanh toán chỉ phí khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi được hưởng như sau: 14 + Tại bệnh viện tuyến trung ương: 40% chỉ phí điều trị nội trú; + Tại bệnh viện tuyến tỉnh: 60% chỉ phí điều trị nội trú từ ngày 01/01/2015 đến ngày 31/12/2020; 100% chỉ phí điều trí nội trú từ ngày 1/1/2021 trong phạm v cả nước. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA PHÁT TRIÊN ĐÓI TƯỢNG THAM GIÁ BẢO HIẾM Y TẾ HỘ GIA ĐÌNH 1. Khái niệm phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm y tế hộ gia đình Theo cách tiếp cận về khái niệm phát triển kinh tế của Amartya Sen dua ra từ cuối thập kỷ 80 bởi chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP).

thì mục đích của phát triển là tạo ra một môi trường thuận lợi cho phép con người được hưởng cuộc sống lâu dải khỏe mạnh và sáng tạo. Chân lý đơn giản nhưng đầy sức mạnh này rất hay bị người ta quên mắt trong lúc theo đuôi của cải vật chất và tài chính. Bên cạnh đó,phát triển còn là sự tăng trưởng gắn liền với sự hoàn thiện về cơ cầu và nâng cao về chất lượng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ