Chương I: Phát triển nguồn nhân lực yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp Công nghiệp hóa — Hiện đại hóa ở nước ta hiện nay. Chương II: Phát triển nguồn nhân lực có chất lượng ở nước ta hiện nay — thực trạng và một số định hướng chủ yếu. Chương III: Phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao Công nghiệp hóa — Hiện đại hóa trên cơ sở lấy phát triển giáo dục và đào tạo là “Quốc sách hàng đầu”. Tóm lại, các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án đã cho thấy bức tranh khá đầy đủ và toàn diện cả lý luận lẫn thực tiễn về nguồn lực, nhân lực chất lượng cao, về các giải pháp nâng cao chất lượng quản lý nhân lực tại các doanh 10 nghiệp nói riêng, việc quản lý nguồn nhân lực đặc biệt là nhân lực chất lượng cao là hết sức quan trọng để đây mạnh tăng trưởng, phát triển kinh tế đất nước cũng như doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp nhà nước như Tổng Công ty Viễn thông MobiFone, tiến tới lộ trình cô phan hóa, việc tìm ra các giải pháp dé quản lý nhân lực nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là công việc trọng tâm hàng đầu. Các yếu tố nhân lực theo bộ máy, hoặc hệ thong tô chức cũ phục vụ bộ máy, hệ thong tô chức bộ máy mới là Công ty Cô phan là điều rất quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của Tổng Công ty sau này. Tuy vậy, các nghiên cứu trên tiếp cận và đánh giá van đề QLNL tại các doanh nghiệp hay lĩnh vực khác nhau mà chưa có nghiên cứu nao di vao trọng tâm thực trạng công tác QLNL tai MBF HN3. Nhận thức được vấn dé đó, luận văn đã kế thừa những thành tựu nghiên cứu đã đạt được đồng thời luận giải chuyên sâu về vấn đề “Quản lý nhân lực tại MobiFone Thành Phố Hà Nội 3 - Công ty Dịch vụ MobiFone khu vực 1 - Chi nhánh Tổng Công ty Viễn thông MobiFone”.
Cơ sở lý luận về Quản lý nhân lực trong Doanh nghiệp 1. Một số Khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về nhân lực a. Quan niệm về nhân lực Thuật ngữ nhân lực (hurman resourses) xuất hiện vào thập niên 80 của thé kỷ 20 khi mà có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động.
Trước đây, quan niệm quản lý nhân viên xem họ là lực lượng thừa hành, phụ thuộc, cần khai thác tối đa sức lao động của họ với chỉ phí tối thiểu. Từ nửa cuối thế kỷ 20 đến nay, quan niệm quản lý nhân lực với tính chất mềm dẻo và linh hoạt, tạo điều kiện tốt hơn dé người lao động có thé phát huy ở mức cao nhất các khả năng tiềm tàng, vốn có của họ thông qua quá trình tích lũy tự nhiên trong quá trình lao động phát triển. Thuật ngữ “nhdn lực” là tượng trưng cho sự thắng thé của phương thức quan ly mới đối với phương thức quản lý cũ trong việc sử dụng nguồn nhân lực. Dưới đây là một vài quan điêm vê “nhân lực” như: 11 Trong báo cáo của Liên hợp quốc đánh giá về những tác động của toàn cầu hoá đối với nhân lực đã đưa ra định nghĩa nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực tế cùng với những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của con người.
Quan niệm về nhân lực theo hướng tiếp cận này có phần thiên về chất lượng của nhân lực. Nicholas Henry (1996), nhân lực là nguồn lực con người của những tô chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới;[30, Tr56] George T.Boudreau (1999), nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức.[3 Itr23] Từ khi Việt Nam bước vào nền kinh tế thị trường, khái niệm về “nhân lực” lại càng được sử dụng rộng rãi. Một số nhà khoa học tham gia chương trình khoa học - công nghệ cấp nha nước mã số KX - 07 do GS.TSKH Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm, cho rằng nhân lực được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thé chất va tinh than, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất. Với cách tiếp cận này, nhân lực được hiểu là sự tổng hòa số lượng và chất lượng nhân lực.
Cho dù các định nghĩa trên có những lối diễn đạt khác nhau nhưng chung quy lại tất cả đều muốn nêu bật lên ý nghĩa nhân lực là sự kết hợp của các yếu tô :trí lực, thé lực, và nhân cách. Đây là các yếu tố co bản cần có dé người lao động có thé phát triển toàn diện. Từ các định nghĩa trên, tác giả cho rằng: “Nhân lực trong tổ chức là tiềm năng lao động của đội ngũ nhân viên trong tô chức trên các mặt số lượng, cơ cau (theo giới tính, độ tuổi, tính chất công việc) va chất lượng, bao gồm phẩm chat va năng lực (trí lực, tâm lực, thé lực, kỹ năng nghề nghiệp) nhằm đáp ứng nhu cầu phát triên, phục vụ cho mục đích tôi đa hóa lợi nhuận của tô chức. Đặc điểm quản lý nhân lực trong doanh nghiệp và tầm quan trọng của nhân lực đối với tổ chức doanh nghiệp * Đặc điểm quản lý nhân lực trong doanh nghiệp Quản lý nhân lực lay con ngoiời làm vốn: Lấy người lao động làm vốn có nghĩa là phải có thái độ quan tâm đúng mức tới ngojời lao động,phải tìm cach dé không những sử dụng hiệu qua mà còn phải làm cho vốn đó ngày càng phát triển hơn.
Nếu nhờ các nguồn lực khác là yếu tố bị động thì con người lại mang tinh chủ động, năng động và sáng tạo. Con người là một trong những yếu tố sản xuất nhưng con người sử dụng những yếu tô sản xuất khác dé tao ra của cải vật chất cho xã hội. Việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội, đem lại lợi nhuận nhiều hay ít cho doanh nghiệp phụ thuộc vào chất lượng lao động của doanh nghiệp đó. Chính vì vậy quản lý nhân lực trong doanh nghiệp là phát huy tài năng của mỗi cá nhân người lao động, giúp họ có cơ hội cống hiến, phát huy được năng lực và tiềm năng của mình.
Quản lý nhân lực lấy việc bồi đưỡng phát triển nhân lực làm nhiệm vụ quan trọng hàng đầu: Nếu như sử dụng nhân lực là mục tiêu của doanh nghiệp thì bồi dưỡng phát triển nhân lực là phương tiện mang lại nhiều lợi ích cho việc sử dụng nhân lực. Mỗi một cá nhân đều có điểm mạnh và điểm yếu riêng biệt, bên cạnh đó là những tiềm năng chưa được khai thác do chưa đúng hoàn cảnh, thời điểm cụ thể. Trong một môi trường cụ thể, nhà quản lý giỏi cần phải năm rõ khả năng của cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp mình, biết sử dụng những mặt mạnh đồng thời bồi dưỡng giúp họ củng cố kiến thức, kỹ năng phát huy những điểm mạnh, khắc phục những điểm chưa tốt dé nâng cao năng lực nhân sự cho doanh nghiệp mình Quản lý nhân lực là quản lý chiến lược của doanh nghiệp: Chiến lược chức năng để thực hiện chiến lược tổng thể của doanh nghiệp bao gồm: Chiến lược nguồn nhân lực, chiến lược kinh doanh, chiến lược thị trường, chiến lược Marketing Trong đó, chiến lược nhân lực cung cấp nguồn lực quan trọng nhất đê thực hiện các chiên lược chức năng khác, đó là con người. 13 Do đó, tính khả thi và hiệu quả của các chiến lược chức năng phụ thuộc vào việc quản lý nhân lực của doanh nghiệp đó như thế nào.
Quản lý nhân lực là một bộ phận của quản lý doanh nghiệp. Đây là đặc điểm lớn nhất và chủ yêu nhất của quản lý nhân lực, chi phối toàn bộ đến các nội dung của công tác quản lý trong doanh nghiệp. * Tam quan trọng của nhân lực đối với tổ chức Doanh nghiệp Nhân lực là nguồn lực con người - là một trong những nguồn lực quan trọng nhất cho sự phát triển kinh tế, đặc biệt trong môi trường doanh nghiệp. Vai trò của nhân lực thé hiện trong các mặt sau: Thứ nhất, nhân lực là động lực phát triển Cùng với tiến bộ kỹ thuật công nghệ, vốn đầu tư, nhân lực đóng vai trò quyết định đến sự thành công cho sự nghiệp đổi mới trong Doanh nghiệp.
Chỉ có nguồn lực con người mới tạo ra động lực cho sự phát triển, những nguồn lực khác muốn phát huy được tac dụng chỉ có thé thông qua con người. Không thể không khang định vai trò của con người trong việc sáng tạo ra công cụ lao động, rồi vận hành và cải tiến chúng trong quá trình lao động, từ đó thúc đây quá trình sản xuất. Nguồn lực của con người chính là tổng hợp năng lực được huy động vào trong quá trình sản xuất. Năng lực đó chính là động lực quan trọng cho sự phát triển.
Thứ hai, nhân lực là mục tiêu của sự phát triển. Có thé khang định răng nhu cầu tiêu dùng của con người cũng là nhân tố quyết định tác động tới quá trình sản xuất, định hướng cho sản xuất thông qua quá trình vận động cung - cầu trên thị trường. Trên thị trường nhu cầu tiêu dùng của một loại hàng hóa nào đó tăng lên, lập tức thu hút lao động cần thiết dé sản xuất ra hàng hóa đó và ngược lại. Đời sống con người ngày càng được cải thiện thì nhu cầu của con người cả về vật chất và tinh thần cũng tăng lên, những nhu cầu đa dạng đó làm tác động tới sự phát triển của kinh tế xã hội, vì con người không chỉ là mục tiêu của sự phát triển của Doanh nghiệp mà còn tạo điều kiện tự hoàn thiện mình.
Thứ ba, nhân lực là nhân tố năng động nhất, quyết định nhất của sự phát triển 14 Lịch sử phát triển của loài người, từ thời đồ đá đến thời kỳ hiện đại đã chứng minh rằng trải qua quá trình lao động hàng triệu năm của con người đã làm tăng động lực phát triển kinh tế xã hội. Như vậy, động lực, mục tiêu của sự phát triển và tác động của sự phát triển tới bản thân con người cũng nằm trong chính bản thân con người. Điều đó lý giải tại sao con người được coi là nhân tô năng động nhất, quyết định nhất của sự phát trién. Quan ly nhân lực s* Quản lý Quan lý trong tiếng anh dịch là “Management”.