CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ QUẢN LÝ HỘI NÔNG DÂN 1. Cơ sở lý luận về chất lượng cán bộ quản lý Hội Nông dân 1. Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm về Hội Nông dân các cấp Hội Nông dân Việt Nam là đoàn thể chính trị - xã hội của giai cấp nông dân được thành lập và phát triển dưới sự lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam cơ sở chính trị của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Hội Nông dân Việt Nam tiền thân là Nông hội đỏ, thành lập ngày 14 tháng 10 năm 1930, trải qua các thời kỳ cách mạng luôn trung thành với Đảng và dân tộc.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam là trung tâm, nòng cốt cho phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới. Mục đích của Hội là tập hợp đoàn kết nông dân, xây dựng giai cấp nông dân vững mạnh về mọi mặt, xứng đáng là lực lượng tin cậy trong khối liên minh vững chắc công, nông, trí, bảo đảm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Hội Nông dân Việt Nam tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, xây dựng Hội vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động; nâng cao vai trò đại diện, phát huy quyền làm chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên, nông dân. Phát huy truyền thống yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tinh thần cách mạng, lao động sáng tạo, cần kiệm, tự lực, tự cường, đoàn kết của nông dân; tích cực và chủ động hội nhập Quốc tế, đẩy mạnh phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng văn hoá, giữ vững quốc phòng, an ninh, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa.2 Khái niệm cán bộ quản lý.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn n 7 Cán bộ quản lý là những người thực hiện những mục tiêu nhất định thông qua những người khác; là những người có thẩm quyền ra quyết định dù là được phân quyền hay uỷ quyền, (Nguyễn Ngọc Hiển, 2001). *Theo cấp bậc quản lý: cán bộ quản lý được phân chia thành: cán bộ quản lý cấp cao, cán bộ quản lý cấp trung và cán bộ quản lý cấp cơ sở. - Cán bộ quản lý cấp cao: Là những người có quyền ra các quyết định mang tính chiến lược. Trong thực tế, những người có ảnh hưởng lớn tới các quyết định mang tính chiến lược cũng được coi là cán bộ quản lý cấp cao - Cán bộ quản lý cấp trung: Là những người có thẩm quyền ra các quyết định chiến thuật.
Những quyết định chiến thuật là những quyết định có liên quan đến những bộ phận, phân hệ của hệ thống cán bộ quản lý và công tác cán bộ. - Cán bộ quản lý cấp cơ sở: Là những người có thẩm quyền ra các quyết định mang tính tác nghiệp cho những đơn vị cơ sở của hệ thống. * Theo chức năng của cán bộ quản lý thì cán bộ quản lý được chia làm 3 loại: - Cán bộ lãnh đạo: Là người đứng đầu hệ thống, có một chức danh nhất định. Chịu trách nhiệm về hệ thống mình phụ trách.
- Các chuyên viên(chính, cao cấp): Là những người nằm trong bộ máy quản lý có trình độ chuyên môn sâu trong một lĩnh vực nào đó. Một chuyên viên có chức năng nhiệm vụ như sau: + Thực hiện quá trình thông tin trong đó cơ bản là tổng hợp, phân tích thông tin. + Tham gia xây dựng các phương án quyết định, đề xuất kiến nghị về lựa chọn phương án tối ưu. + Giúp cán bộ lãnh đạo chỉ đạo, thực hiện quyết định.
+ Có thể được ra quyết định khi được cấp trên uỷ quyền. - Nhân viên: là những người đảm bảo vật chất, thông tin cho cho hai loại cán bộ quản lý nói trên. * Yêu cầu đối với cán bộ quản lý. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn n 8 + Về vị trí: Cán bộ quản lý phải đạt được các tiêu chuẩn chung về các tiêu chuẩn cao hơn như tư duy mới về chính trị, có tinh thần trách nhiệm cao.
+ Về chuyên môn. Cán bộ quản lý phải hiểu được công việc, nắm vững chuyên môn mà mình phụ trách. + Về năng lực tổ chức. Có khả năng hiểu con người, biết giao việc, có khả năng tập hợp được người dưới quyền và có khả năng gây ảnh hưởng và lựa chọn các phương pháp lãnh đạo để có thể đi đến mục tiêu của tổ chức.
+Về đạo đức. Người cán bộ quản lý phải có xu hướng đúng, biết tôn trọng con người, có văn hoá, công bằng, chí công vô tư.3 Khái niệm về chất lượng cán bộ quản lý Hội Nông dân Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật. Chất lượng biểu thị ra bên ngoài các thuộc tính, các tính chất vốn có của sự vật. Quan niệm chung nhất về “chất lượng” là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật, sự việc.
Nói đến chất lượng là nói tới hai vấn đề cơ bản: Thứ nhất, đó là tổng hợp những phẩm chất, giá trị, những đặc tính tạo nên cái bản chất của một con người, một sự vật, sự việc; Thứ hai, những phẩm chất, đặc tính, giá trị đó đáp ứng đến đâu những yêu cầu đã được xác định về con người, sự vật, sự việc đó ở một thời gian và không gian xác định. Tuy nhiên, những điều này có tính ổn định tương đối, thay đổi do tác động của những điều kiện chủ quan và khách quan. Vì thế, nói đến chất lượng của một con người là nói đến mức độ đạt được của một người ở một thời gian và không gian được xác định cụ thể, đó là các mức độ tốt hay xấu, cao hay thấp, ngang tầm hay dưới tầm, vượt tầm, đạt hay không đạt yêu cầu đặt ra. Tổng hợp những phẩm chất, những giá trị, những thuộc tính đặc trưng, bản chất của một con người và các mặt hoạt động của con người đó, chính là chất lượng con người đó.
Khi phân tích, đánh giá chất lượng của bất kỳ sự vật, hiện tượng, quá Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn n 9 trình nào đang diễn ra trong tự nhiên, xã hội hay trong tư duy phải phân tích, đánh giá chất lượng của từng yếu tố, từng bộ phận cấu thành sự vật hiện tượng và quá trình ấy trong thống nhất, biện chứng, trong sự ràng buộc và tác động lẫn nhau giữa chúng; không được tuyệt đối hoá một yếu tố, bộ phận nào hoặc tách rời giữa các yếu tố, các bộ phận. Quá trình đó đòi hỏi phải có phương pháp xem xét, đánh giá cụ thể, không thể áp dụng phương pháp duy nhất, đặc biệt là đối với con người và hoạt động của con người trong xã hội. Chất lượng cán bộ: Theo Hồ Chí Minh, Người cho rằng “Người cán bộ, công chức có chất lượng thì phải hội đủ các tiêu chuẩn đức và tài, phẩm chất và năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phong cách, phương pháp công tác tốt trong đó phẩm chất, đạo đức là yếu tố hàng đầu. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải luôn rèn luyện người cán bộ, đảng viên có đủ đức và đủ tài, vừa hồng và vừa chuyên.
Người luôn quan tâm, động viên và dìu dắt đội ngũ cán bộ, đảng viên để họ thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí, công, vô tư”. * Với quan niệm như trên, chất lượng cán bộ quản lý của Hội nông dân bao gồm nhiều yếu tố. Đây không phải là tổng số giản đơn chất lượng của từng cán bộ Hội mà là sự tổng hợp của nhiều yếu tố liên quan đến đội ngũ cán bộ Hội, làm nên sức mạnh để cán bộ Hội hoàn thành được vai trò, nhiệm vụ của mình. Khi xem xét, đánh giá chất lượng cán bộ Hội Nông dân cấp huyện cần phải dựa trên ba yếu tố chủ yếu là: Chất lượng, số lượng và cơ cấu của cán bộ Hội.
- Chất lượng cán bộ quản lý các cấp của Hội Nông dân huyện: là tổng hợp của những yếu tố cấu thành mà người cán bộ Hội Nông dân cần phải có như: phẩm chất chính trị; đạo đức lối sống; trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ; kỹ năng công tác Hội, khả năng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của người cán bộ Hội Nông dân, (Lê Hữu Thành, 2004). - Số lượng cán bộ quản lý các cấp Hội Nông dân huyện:Chúng ta không thể đồng nhất số lượng với chất lượng nhưng chất lượng và số lượng có mối Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn n 10 quan hệ mật thiết với nhau. Để cho công tác Hội Nông dân huyện phát triển cần phải có cán bộ Hội đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng. Phải có một số lượng cán bộ nhất định mới xây dựng được tổ chức Hội, mới có đủ lực lượng tổ chức thực hiện nhiệm vụ, mới phát huy được sức mạnh của từng cán bộ và cả đội ngũ cán bộ Hội.
Số lượng cán bộ quản lý các cấp của Hội Nông dân ở huyện Lục Nam là bao gồm các đồng chí là Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Nông dân huyện, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nông dân xã, thị trấn, Chi Hội trưởng thôn, bản, tổ dân phố. - Cơ cấu cán bộ quản lý các cấp của Hội Nông dân huyện:Cơ cấu cán bộ Hội là sự bố trí, sắp xếp các yếu tố cấu thành của đội ngũ này, nó được phản ánh qua các yếu tố như: Thành phần xuất thân, dân tộc, tôn giáo, giới tính, trình độ học vấn (chuyên môn, lý luận chính trị. ), năng lực, tuổi đời,. của cán bộ Hội.
Tóm lại, có thể xem chất lượng cán bộ quản lý các cấp của Hội Nông dân là tổng thể của các yếu tố chất lượng, số lượng và cơ cấu cán bộ quản lý các cấp của Hội, được phản ánh trong quan hệ với mục đích, yêu cầu đặt ra và kết quả thực hiện nhiệm vụ của cán bộ quản lý các cấp của Hội Nông dân.Tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ quản lý Hội Nông dân Tiêu chí về tuổi của cán bộ quản lý Để đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý thì tiêu chí về tuổi cũng cần được quan tâm lưu ý.