phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về Bảo hiểm y tế Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng công tác BHYT tại thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh Chƣơng 4: Giải pháp thực hiện BHYT toàn dân tại thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO HIỂM Y TẾ 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về BHYT BHYT 1. Sơ lược sự ra đời và phát triển của BHYT Ngay sau khi hòa bình đƣợc lập lại ở miền Bắc (1954) việc chăm sóc y tế cho nhân dân đã đƣợc Nhà nƣớc quan tâm, chú trọng. Nhà nƣớc đã triển khai xây dựng hệ thống bệnh viện, bệnh xá và trung tâm y tế từ Trung ƣơng đến địa phƣơng để chăm sóc y tế cho nhân dân và cán bộ, công nhân viên chức nhà nƣớc theo phƣơng thức khám chữa bệnh miễn phí.
Thực hiện chủ trƣơng đổi mới trên lĩnh vực y tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, ngày 24/4/1989 Hội đồng Bộ trƣởng (nay là Chính phủ) ban hành Quyết định số 45/HĐBT cho phép các cơ sở KCB thu một phần viện phí. Nội dung của Nghị quyết nêu rõ: “ở những nơi có điều kiện, có thể áp dụng thử chế độ bảo hiểm sức khỏe hoặc ký hợp đồng khám chữa bệnh với các tổ chức y tế trong quốc doanh và ngoài quốc doanh, lập các quỹ bảo trợ y tế địa phƣơng hoặc y tế cơ sở giúp đỡ ngƣời bệnh không có khả năng trả một phần viện phí”. Đó là những chuyển đổi quan trọng đầu tiên của quá trình đổi mới, giải pháp phù hợp đòi hỏi của thực tiễn công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Để có những kinh nghiệm từ thực tiễn, Bộ Y tế tổ chức thí điểm BHYT, từ đó tổng kết đúc rút kinh nghiệm để tổ chức BHYT phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện nƣớc ta.
Từ cuối năm 1989 đến tháng 6 năm 1991, một số địa phƣơng, bệnh viện đã tổ chức thí điểm BHYT nhƣ: Bảo hiểm sức khỏe tại Hải Phòng, xây dựng quỹ KCB BHYT ở Vĩnh Phú, BHYT tự nguyện ở huyện Mỏ Cầy - Bến Tre, BHYT tự nguyện ở Quảng Trị, Quỹ KCB tại bệnh viện Đƣờng sắt, “Quỹ bảo trợ y tế” tại bệnh viện Bƣu điện….Đã có 3 tỉnh, thành phố tổ chức thí điểm BHYT toàn tỉnh là: Hải Phòng, Quảng Trị, Vĩnh Phú; có 4 tỉnh có cơ quan BHYT cấp tỉnh: Hải Phòng, Quảng Trị, Phú Yên, Bến Tre và có 24 quận, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 huyện của 14 tỉnh, thành phố trong cả nƣớc thực hiện thí điểm BHYT không kể các hình thức bảo hiểm chữa bệnh do một số bệnh viện tổ chức. Khi tổ chức ở một số địa bàn khác nhau với các quy mô, hình thức khác nhau khẳng định BHYT là một xu thế tất yếu và là hƣớng đi đúng để tăng cƣờng chất lƣợng phục vụ sức khỏe nhân dân cơ bản và lâu dài. Muốn BHYT phát triển đƣợc phải có cơ sở pháp lý và có một hệ thống tổ chức BHYT đủ sức tổ chức thực hiện chính sách mới này. Qua thực hiện thí điểm và tình hình chung về công tác KCB trên cả nƣớc, Ủy ban Y tế và Xã hội của Quốc hội cho rằng trong thời gian này nên ban hành Pháp lệnh BHYT, chỉ nên ban hành Nghị định quy định việc thực hiện chế độ BHYT để vừa thực hiện, vừa rút kinh nghiệm.
Hiến pháp nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: “Nhà nƣớc đầu tƣ, phát triển và thống nhất quản lý sự nghiệp bảo vệ sức khỏe nhân dân, huy động và tổ chức mọi lực lƣợng xã hội xây dựng và phát triển nền y học Việt Nam theo hƣớng dự phòng;… kết hợp phát triển y tế nhà nƣớc với y tế nhân dân; thực hiện bảo hiểm y tế, tạo điều kiện để mọi ngƣời dân đƣợc chăm sóc sức khỏe”. Thực hiện hiến pháp, việc KCB cho nhân dân đƣợc kiểm nghiệm qua thực tế bằng các hình thức thí điểm. Ngày 15/8/1992 Hội đồng Bộ trƣởng đã ban hành Nghị định số: 299/HĐBT kèm theo Điều lệ Bảo hiểm y tế khai sinh ra chính sách BHYT ở Việt Nam. Sau 5 năm tổ chức thực hiện Điều lệ BHYT theo nội dung của Nghị định 299/HĐBT, chính sách BHYT đã bộc lộ một số khó khăn: - Về mặt tổ chức: Ở Trung ƣơng BHYT Việt Nam trực thuộc Bộ Y tế, ở địa phƣơng cơ quan BHYT trực thuộc địa phƣơng nên mọi hoạt động do Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh và Sở Y tế chỉ đạo do vậy việc thực hiện chính sách BHYT tại các địa phƣơng không thống nhất ảnh hƣởng đến quyền lợi của ngƣời tham gia BHYT; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 - Về quản lý quỹ và sử dụng quỹ khám chữa bệnh BHYT: Việc quy định quỹ của địa phƣơng nào địa phƣơng đó tự quản nên việc sử dụng quỹ BHYT cũng không thống nhất, ngoài việc sử dụng vào chi phí KCB còn sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau.
Vì quỹ BHYT không tập trung nên việc điều tiết giữa các địa phƣơng không thực hiện đƣợc dẫn đến một số địa phƣơng bị vƣợt quỹ (âm quỹ) BHYT làm ảnh hƣởng đến chính sách BHYT. Cộng với đó là một số bất cập khác nhƣ: Các cơ sở KCB chƣa làm quen với cơ chế thị trƣờng trong KCB; Ngƣời có thẻ BHYT đi KCB không đƣợc bao cấp nhƣ trƣớc nữa mà phải nộp một phần viện phí, có sự so sánh giữa bệnh nhân có thẻ BHYT và bệnh nhân nộp viện phí, cơ sở KCB bắt đầu có sự phân biệt đối sử trong KCB, về thực hiện BHYT tự nguyện trong giai đoạn này chƣa có văn bản quy phạm pháp luật. Để khắc phục những khó khăn, bất cập trên, ngày 13/8/1998 Chính phủ ban hành Nghị định số 58/NĐ-CP kèm theo điều lệ BHYT mới, theo đó có sự thay đổi căn bản sau: - Về mặt tổ chức: Hệ thống BHYT đƣợc tổ chức theo ngành dọc BHYT Việt Nam trực thuộc Bộ Y tế, BHYT các tỉnh, thành phố trực thuộc BHYT Việt Nam, các chi nhánh BHYT quận, huyện trực thuộc BHYT tỉnh. - Về quản lý và sử dụng quỹ KCB BHYT: Quỹ BHYT đƣợc quản lý tập trung thống nhất trong toàn quốc do BHYT Việt Nam điều tiết.
Kể từ năm 2002 hệ thống BHYT sáp nhập vào hệ thống Bảo hiểm xã hội (BHXH) và gọi chung là BHXH. Sau 6 năm thực hiện Nghị định số 58/NĐ-CP chúng ta đã đạt đƣợc những kết quả bƣớc đầu quan trọng, số ngƣời tham gia BHYT ngày càng tăng, năm sau cao hơn năm trƣớc, nhiều bệnh nhân nặng đã đƣợc BHYT chi trả từ vài chục triệu đến hàng trăm triệu đồng. Thực tế cho thấy BHYT góp phần nâng cao chất lƣợng KCB tại các cơ sở y tế nhất là ở các tỉnh, huyện nghèo. Điều đó khẳng định tính đúng đắn của chính sách chăm sóc sức khỏe nhân dân của Đảng và Nhà nƣớc trong thời kỳ đổi mới của đất nƣớc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 Ngày 16/5/2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 63/2005/NĐ-CP kèm theo Điều lệ BHYT mới thay thế Nghị định số 58/1998/NĐ-CP. Nhƣ vậy, sau 15 năm thực hiện Nghị định số 299/HĐBT ngày 15/8/1992 kèm theo Điều lệ BHYT, với 2 lần sửa đổi bổ sung bằng Nghị định số 58/NĐ-CP ngày 13/8/1998 và Nghị định số 63/NĐ-CP ngày 16/5/2005. Kinh nghiệm trong thời gian thực hiện chính sách BHYT chúng ta thấy rõ hơn chính sách BHYT có mối quan hệ hết sức phức tạp, liên quan tới mỗi ngƣời và cả cộng đồng. Do đó, cần có Luật về BHYT để điều chỉnh những mối quan hệ xã hội quan trọng này.
“…Phát triển nâng cao chất lƣợng BHYT; xây dựng và thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân; phát triển mạnh các loại hình BHYT tự nguyện, BHYT cộng đồng. Mở rộng diện các cơ sở y tế công lập và ngoài công lập khám, chữa bệnh theo BHYT. Hạn chế và giảm dần hình thức thanh toán viện phí trực tiếp từ ngƣời bệnh. Đổi mới phƣơng thức thanh toán viện phí qua quỹ BHYT.
Xuất phát từ những vấn đề trên, ngày 14/11/2008 tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật BHYT, Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2009 điều chỉnh các mối quan hệ liên quan tới các chủ thể tham gia BHYT gồm 10 chƣơng, 52 điều quy định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, trách nhiệm của Nhà nƣớc, các cơ quan quản lý đối với chính sách xã hội quan trọng này, theo đó ngày 01/7 hằng năm đƣợc lấy làm ngày BHYT. ề BHYT “Bảo hiểm y tế: loại bảo hiểm do nhà nƣớc tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân.” (Từ điển Bách khoa Việt Nam I, 1995, tr. Mặt khác BHYT là một trong 9 nội dung của BHXH đƣợc quy định tại Công ƣớc 102 ngày 28/6/1952 của tổ chức lao động quốc tế. Vì vậy, nói đến BHYT chúng ta hiểu là BHXH về y tế hay là BHYT theo luật pháp.
Luật BHYT nhằm bảo vệ những rủi ro về bệnh tật cho những ngƣời tham gia Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 9 BHXH về y tế. BHYT sẽ đảm bảo chi trả toàn bộ hoặc từng phần những chi phí khám, chữa bệnh giúp cho ngƣời bệnh vƣợt qua cơn hoạn nạn về bệnh tật, sớm phục hồi sức khỏe cũng nhƣ ổn định cuộc sống gia đình. Ở các nƣớc phát triển ngƣời ta định nghĩa: BHYT là một tổ chức cộng đồng đoàn kết tƣơng trợ lẫn nhau, nó có nhiệm vụ gìn giữ sức khỏe, khôi phục lại sức khỏe hoặc cải thiện tình trạng sức khỏe của ngƣời tham gia Bảo hiểm y tế. Trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về BHYT, nhƣng mục đích chung của BHYT đều giống nhau là huy động nguồn tài chính để chi trả chi phí khám chữa bệnh cho ngƣời tham gia BHYT khi bị ốm đau, bệnh tật, nội dung các khái niệm bao hàm nhƣ sau: “BHYT là sự đóng góp theo chu kỳ đều đặn của các thành viên tạo nên một quỹ chung để cùng nhau chia sẻ những rủi ro thông qua hình thức thanh toán chi trả chi phí khám chữa bệnh bằng quỹ bảo hiểm”.
Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm đƣợc áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do nhà nƣớc tổ chức thực hiện và các đối tƣợng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật BHYT (Quốc hội, 2008) [14].