CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI NSNN CẤP TỈNH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý chi NSNN Những nghiên cứu về quản lý chi NSNN được thể hiện qua một số công trình như: - Luận án tiến sỹ kinh tế của Trần Văn Lâm (2011): “Hoàn thiện quản lý chi NSNN nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh”. Trong luận án này đã hệ thống hoá cơ sở lý luận giữa chi NSNN và phát triển KT-XH ở địa phương, làm rõ mục tiêu, nguyên tắc, phương thức quản lý chi NSĐP trong điều kiện kinh tế thị trường. Đã trình bày một cách khái quát thực trạng quản lý chi NS trong mối quan hệ với phát triển KT-XH trên các mặt.
Tác giả luận án phân tích kinh nghiệm cải cách quản lý chi NSNN ở các nước công nghiệp phát triển và rút ra bài học cho Việt Nam, nhất là kinh nghiệm cải cách quản lý NS theo kết quả đầu ra và khuôn khổ NS trung hạn. Đặc biệt, tác giả luận án đã luận chứng khá thuyết phục về các quan điểm hoàn thiện quản lý chi NSĐP, kiến nghị áp dụng 6 nhóm giải pháp hoàn thiện quản lý chi NSĐP phù hợp với điều kiện Việt Nam. Một số giải pháp có ý nghĩa tham khảo cho các địa phương khác như áp dụng quy trình lập dự toán và phân bổ NS trên cơ sở khuôn khổ chi tiêu trung hạn hướng đến kết quả đầu ra; hoàn thiện cơ chế quản lý chi NS theo hướng mở rộng quyền tự chủ cho tổ chức thụ hưởng NS…. - Luận án tiến sĩ kinh tế của Bùi Thị Quỳnh Thơ (2013) : “Hoàn thiện quản lý chi NSNN tỉnh Hà Tĩnh”.
Trên cơ sở các nghiên cứu lý luận về quản lý chi NSNN, kinh nghiệm của một số quốc gia và địa phương của Việt Nam về quản lý chi NSNN như: quy hoạch và quản lý nghiêm theo quy hoạch, bứt phá 5 về cơ sở hạ tầng, đổi đất lấy cơ sở hạ tầng, người có đất ra mặt đường phải đóng tiền… Căn cứ thực trạng quản lý chi NSNN tại Hà Tĩnh, có tính đến các xu hướng diễn biến bối cảnh và thực tế mục tiêu, yêu cầu phát triển của địa phương, tác giả đã đề xuất 06 nhóm giải pháp đổi mới quản lý chi NSNN trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, trong đó một số giải pháp có ý nghĩa tham khảo cho các địa phương khác như: lựa chọn, quyết định danh mục và thứ tự ưu tiên các sản phẩm đầu ra; các giải pháp nâng cao hiệu quả CTX, chi ĐTPT; hoàn thiện hệ thống cácđịnh mức chi NSNN… Đề xuất các giải pháp trên có tính khả thi, triển khai thực hiện được trong cuộc sống, luận án cũng đã nghiên cứu và đề xuất 4 nhóm điều kiện thực hiện như: đổi mới tư duy quản lý chi NSNN; các điều kiện chủ yếu liên quan đến việc triển khai thực hiện khuôn khổ chi tiêu trung hạn và hoàn thiện khung pháp lý; các điều kiện liên quan đến hoàn thiện hệ thống cơ chế quản lý chi NSNN trên địa bàn Hà Tĩnh. Luận án tiến sĩ của Tô Thiện Hiền (2012): “Nâng cao hiệu quả quản lý NSNN tỉnh An Giang giai đoạn 2011 – 2015 và tầm nhìn đến 2020”. Luận án đã hệ thống hoá và làm rõ các vấn đề liên quan đến quản lý NSNN, hiệu quả quản lý NSNN như: hiệu quả thu, chi NSNN; hiệu quả quản lý NSNN, hiệu quả tổng hợp và đưa ra các chỉ tiêu để đánh giá việc quản lý NSNN như: Tăng thu NSNN hàng năm đạt 3-5%, thu NSNN đạt từ 22-25%GDP; Nợ công không quá 6% GDP; Luận án đã đưa ra 4 nhân tố ảnh hưởng đến quản lý NSNN và 3 yếu tố đảm bảo hiệu quả quản lý NSNN. Tuy nhiên luận án chưa chỉ ra được yếu tố quan trọng nhất, mang tính quyết định đến hiệu quả quản lý NSNN.
Các nghiên cứu trên đã góp phần tạo cơ sở lý luận cho các phương pháp quản lý NSNN nói chung và quản lý chi NSNN nói riêng, từ đó đưa ra định hướng và giải pháp giải quyết những vấn đề còn tồn đọng trong công tác quản lý NSNN. Cơ sở lý luận về quản lý chi NSNN 1. Khái niệm chi NSNN Chi NSNN là những khoản chi phát triển KT-XH đảm bảo an ninh, quốc phòng và các hoạt động của bộ máy nhà nước và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. Bản chất chi NSNN là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính được tập trung vào NSNN theo mục đích đã dược quy định.
Như vậy, có thể khái quat: Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng NSNN được dự toán nhằm bảo đảm điều kiện để duy trì hoạt động và thực hiện các chức năng đáp ứng nhu cầu kinh tế- xã hội theo quy định của pháp luật. Do đó, chi NSNN là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của nhà nước. Quá trình chi NSNN Quá trình phân phối: là quá trình cấp phát kinh phí từ NSNN để hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng; Quá trình sử dụng: là trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ NSNN mà không phải trải qua việc hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng c. Vai trò của chi NSNN Chi NSNN có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nguồn lực tài chính cho bộ máy nhà nước và cai trị, điều hành xã hội.
Là một công cụ hữu hiệu để điều tiết thị trường, xóa đói giảm nghèo, góp phần đảm bảo công bằng xã hội, phát triển cân đối giữa các vùng, ngành kinh tế, cung cấp hàng hóa dịch vụ công cho xã hội một cách tốt nhất. Có thể chia vai trò của NSNN theo các chức năng, cụ thể như sau: • Vai trò chi NSNN đối với hoạt động của bộ máy nhà nước: Chi NSNN trước tiên cung cấp nguồn tài chính để đảm bảo cho bộ máy 7 nhà nước tồn tại, hoạt động, từ đó, thực hiện được chức năng quản lý xã hội của mình. Trong nền kinh tế thị trường với sự phân công lao động xã hội rõ rệt, nhu cầu hưởng thụ xã hội trên mọi lĩnh vực đều ở mức cao, bộ máy nhà nước cần tăng cường cả về chất lượng cũng như số lượng để tương đồng với nhu cầu đòi hỏi đó. Vì vậy, chi NSNN dành tỷ trọng thỏa đáng trả lương cho đội ngũ công chức và duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước là cần thiết.Việc sử dụng NSNN để đảm bảo hoạt động của bộ máy nhà nước, đảm bảo ổn định và ràng buộc với cán bộ công chức bộ máy nhà nước sẽ cung cấp cho xã hội hàng hóa công cộng thuần túy với chất lượng cao nhất.
• Vai trò của chi NSNN đối với thực hiện chức năng quản lý XH, y tế văn hóa, giáo dục Chính phủ đóng vai trò quản lý, điều tiết, đảm bảo sự phát triển ăn khớp, đồng đều, thúc đẩy tương tác lẫn nhau cùng phát triển của các lĩnh vực; quản lý toàn diện từ văn hóa, kinh tế, giáo dục…Theo xu hướng chung thì các nước càng phát triển thì tỷ trọng đầu tư cho giáo dục, y tế, văn hóa, trợ cấp xã hội càng cao. Chính phủ các nước này chủ trương thỏa mản ở mức cao các nhu cầu phúc lợi xã hội cho mọi công dân, chủ yếu dựa vào NSNN. Ngoài NSNN thì nguồn tiền để đầu tư cho các lĩnh vực trên còn dựa vào việc các nhà cung cấp cung cấp hàng hóa công cộng và thu phí một phần từ người được hưởng dịch vụ, tức là tồn tại song song hai phương thức, dịch vụ do Nhà nước trả tiền và dịch vụ do người hưởng trả tiền, lựa chọn phương thức nào là tùy thuộc vào nhu cầu của người hưởng dịch vụ. • Vai trò điều tiết vĩ mô của chi NSNN Đây là thế mạnh của chi NSNN được sử dụng như những công cụ hữu hiệu và uyển chuyển.
Nền kinh tế thị trường có những cơ chế tự điều chỉnh, song bản thân những cơ chế đó không có khả năng khắc phục những khuyết tật vốn có của nó. Sự can thiệp của nhà nước thông qua chi NSNN giúp các hoạt động kinh tế hiệu quả, ổn định và công bằng. 8 Chi NS đối với thúc đẩy tăng trưởng: Đầu tiên là việc chi đầu tư cơ sở hạ tầng đối với hạng mục khó có khả năng hoàn vốn hoặc tư nhân không muốn đầu tư như đường xá, trường học, công viên… Việc tăng chi cơ sở hạ tầng trên sẽ thu hút các thành phần kinh tế cùng đầu tư và Nhà nước sẽ có vai trò tương đương với các nhà đầu tư khác, tạo cú huých đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng. Trong trường hợp tốc độ tăng trưởng chậm, thông qua công cụ chi NS có thể kích cầu đầu tư, kích cầu tiêu dùng; còn khi nền kinh tế phát triển nóng thì chi NS cùng các công cụ như chính sách tiền tệ được sử dụng thắt chặt chi tiêu, giảm chi ngân sách cho đầu tư, cho tiêu dùng.
Bên cạnh đó, Chính phủ cũng có thể sử dụng NS là công cụ hỗ trợ tài chính để khuyến khích đầu tư hoặc trợ giúp doanh nghiệp như đầu tư như hỗ trợ tiền thuê đất, hỗ trợ miễm giảm thuế, trợ giá, hỗ trợ bù chênh lệch lãi suất, hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu và sản xuất hàng nông sản… d. Nội dung chi NSNN Chi ngân sách gắn với chủ thể là Nhà nước, liên quan đến hầu hết mọi ngành, lĩnh vực, tổ chức, cá nhân, vì vậy chi NSNN là phạm trù rộng: Quyền quyết định chi NSNN do Quốc hội, Chính phủ hay cơ quan công quyền được ủy quyền: Chi NSNN không mang tính lợi nhuận, quan tâm đến lợi ích cộng đồng và lợi ích KT-XH; Chi NSNN và quản lý chi NSNN tuan thủ nguyên tắc công khai, minh bạch và có sự tham gia của người. Chi NSNN ở câp trung ương hay địa phương về cơ bản chia thành CTX và Chi ĐTPT - CTX: Là những khoản chi đảm bảo tài trợ cho hoạt động bình thường của các đối tượng chi và mức tương đối ổn định trong một thời gian dài; Chi về chủ quyền quốc gia (chi an ninh, quốc phòng, ngoại giao); Chi các khoản lien quan đến điều hành và duy trì các hoạt động của cơ quan nhà nước, các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội.