CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO TRẺ MẪU GIÁO Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON 1. Khái quát lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu nước ngoài Lứa tuổi MN rất quan trọng trong việc xây dựng nền tảng cho sự phát triển về tư duy, thể chất và hình thành nhân cách của trẻ ở độ tuổi phát triển. Bậc học mầm non cũng là bậc học đầu tiên của trẻ đến trường.
Hầu hết các quốc gia và tổ chức quốc tế rất quan tâm và nghiên cứu về sự phát triển của lứa tuổi MN trong bậc học MN để đưa ra những giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng giáo dục MN, nhất là trẻ đến trường thì sẽ được rèn luyện bản thân qua các hoạt động trong và ngoài giờ học của lứa tuổi MN. Ở Hoa Kỳ có câu nói: “All really need to know, I learned in kindergarten” có nghĩa là: “Tất cả những gì tôi thực sự cần biết, tôi đã được học từ trong trường mẫu giáo”. Đúng vậy, nhà trẻ và trường MG là nơi trang bị hành trang tương lai cho các cháu. Lứa tuổi nhà trẻ và MG là trắng trong và tinh khiết.
Bố mẹ và giáo viên là những người đầu tiên khắc họa cho tương lai cốt cách, nhân phẩm một con người tương lai ngay từ điểm khởi đầu ấy. Là người thích tìm hiểu về giáo dục và thích trẻ em nên tôi hay để ý đến việc học của trẻ em ở lứa tuổi nhà trẻ và mẫu giáo Hoa Kỳ.Piaget ( 1896-1980) nhà tâm lý học của thế kỷ XXI người Thụy Điển đã được tác giả đề cập đến lĩnh vực hoạt động vui chơi của trẻ qua những thành tựu nghiên cứu phát triển về trí tuệ trẻ em của ông và các cộng sự. Theo nghiên cứu của ông thì ở lứa tuổi trẻ em “ Khi kết thúc thời kỳ cảm giác – vận động, vào một tuổi rưỡi đến hai tuổi ở trẻ em thường xuất hiện một chức năng cơ bản đối với sự phát triển của các hành vi sau này. Đó là chức năng “ tượng e 7 trưng (ký hiệu) có thể thay thế “cái được biểu đạt” như đồ vật khái niệm, sự kiện, dạng thức bằng “cái biểu đạt” (Ngôn tình, hình ảnh, tinh thần, cử chỉ, tượng trưng).Piaget ông cho rằng trò chơi tượng trưng có lẽ là đánh dấu đỉnh cao nhất của trò chơi trẻ em, phù hợp với chức năng căn bản của trò chơi trong đời sống trẻ em và có mối quan hệ trong suốt cả quá trình phát triển nhất định của trí tuệ - Khởi đầu của trình độ biểu tượng được tạo thành nhờ chức năng ký hiệu [13].
Giáo sư Tina Bruce, tác giả người Anh nổi tiếng hàng đầu về giáo dục mầm non với nhiều cuốn sách hàng đầu về giáo dục sớm đã tóm tắt về giá trị của vui chơi với sự phát triển của trẻ nhỏ như sau: “Các nghiên cứu về não bộ, cũng như nghiên cứu trong các lĩnh vực khác đã cho thấy ngày càng rõ hơn về nhu cầu được vui chơi của tuổi thơ. Chơi đùa đóng vai trò là cơ chế tiếp sức cho những suy nghĩ can đảm, sáng tạo và nghiêm túc ở tuổi trưởng thành”. Ở Đông Nam Á: Trong điều kiện hội nhập việc nâng cao chất lượng GDMN bằng cách cải tiến các phương thức đào tạo GVMN và giới thiệu những thực hành nuôi dạy trẻ tốt nhất đã được quốc tế thừa nhận mà vẫn bảo tồn được văn hóa từng nước như Singapo, Thái Lan, Malaysia áp dụng được những thực hành của thế giới nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa riêng của từng dân tộc và họ đưa ra các chương trình vào nhà trẻ và trường MG [6].Lexgap nhà lập luận người Nga đã đánh giá cao vai trò hướng dẫn, gợi ý của người lớn trong việc tổ chức các HĐVC [6] cho trẻ hơn là áp đặt trẻ e 8 chơi theo ý mình. Ông nhấn mạnh “người lớn hãy tạo điều kiện cho trẻ chơi, luôn khuyến khích tính tự lập và óc sáng tạo của trẻ trong lúc chơi”.I Vaxiliepva luôn đánh giá cao vai trò và tầm quan trọng của việc quản lý hoạt động vui chơi của trẻ.
Ông cho rằng muốn quản lý tốt hoạt động này thì người quản lý cần phải phân tích hoạt động vui chơi của trẻ. Cũng như nắm vững các đặc điểm riêng biệt của từng loại trò chơi thì thực hiện tốt công tác bồi dưỡng cho GV về công tác tổ chức HĐVC “quan sát và phân tích HĐVC là một việc rất phức tạp. Điều này gắn với ý nghĩa của trò chơi trong sự phát triển nhân cách của trẻ MG với vị trí của nó trong quá trình giáo dục ở trường MN, với những dạng trò chơi khác nhau cùng với những đặc điểm riêng biệt. Nếu người lãnh đạo nắm vững đặc điểm riêng biệt này thì việc phân tích các HĐVC sẽ được sâu sắc hơn và có thể giúp đỡ cho đội ngũ GVMN”[15].
Như vậy có thể thấy rằng, các nghiên cứu của nhiều tác giả trên thế giới về vai trò HĐVC đối với trẻ rất rõ về tầm quan trọng, sự tác động của hoạt động vui chơi rất cần thiết cho sự phát triển nhân cách của trẻ. Các nghiên cứu trong nước Vui chơi giúp trẻ MN có cơ hội được trải nghiệm và hình thành những kỹ năng ban đầu cho chính bản thân trẻ trong các HĐVC. Ở Việt Nam cũng có rất nhiều các công trình nghiên cứu về HĐVC đối với trẻ MG như sau: Thập kỷ 80 trở lại đây HĐVC đặc biệt được quan tâm nhiều hơn. Nguyễn Thị Ngọc Chúc (1981) trong “Hướng dẫn tổ chức HĐVC”.
Tác giả đã đề cập đến các loại trò chơi, mức độ các mối quan hệ trong trò chơi đó là: Chơi không có tổ chức, chơi một mình, chơi cạnh nhau, chơi với nhau trong thời gian ngắn, chơi với nhau lâu trên cơ sở hứng thú với nội dung chơi. Trong tài liệu bồi dưỡng “Cán bộ quản lý và giáo viên mầm non 2006” của BGD&ĐT đã đề cập đến vấn đề “Vui chơi là hoạt động chủ đạo, có tác dụng giáo dục và phát triển nhân cách toàn diện. Do đó, vẫn hiểu rõ tầm quan e 9 trọng và cách thức tiền hành, đánh giá hoạt động vui chơi theo yêu cầu mới trong chương trình GDMN”. Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết và cộng sự cũng đã có những phân tích cụ thể về bản chất xã hội của trò chơi, cấu trúc, đặc điểm của HĐVC cho trẻ.
Nhóm tác giả khẳng định bản chất xã hội của trò chơi trẻ em cũng là khẳng định sự tác động tích cực của người lớn lên trò chơi trẻ em, khẳng định việc sử dụng trò chơi như là một phương tiện quan trọng trong GD trẻ em [5]. Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà nghiên cứu việc “Tổ chức vui chơi ở trường MG với nhiều nội dung phong phú, đa dạng và có kết luận rằng “việc tổ chức cho trẻ vui chơi và việc hướng dẫn các trò chơi cho trẻ có những nội dung, phương pháp khác nhau” và “giáo viên phải nắm được tình hình vui chơi của trẻ trong lớp và các phương pháp hướng dẫn để phát triển trò chơi cho trẻ” [6]. Tác giả Đào Thanh Âm trong bài báo “Bàn về phương pháp tổ chức hướng dẫn hoạt động vui chơi cho trẻ MG” đã khẳng định: Cô giáo giỏi là biết lấy vui chơi là hoạt động trung tâm của trẻ, giúp trẻ tổ chức hoạt động đời sống hàng ngày. Hướng dẫn hướng dẫn hoạt động vui chơi cho trẻ phải được quán triệt quan điểm khoa học giáo dục hiện đại về GDMN, từng bước hoàn thiện những tư tưởng tiên tiến mà cốt lõi là giáo dục trẻ em theo sự phát triển tự nhiên của trẻ.
Việc lĩnh hội kinh nghiệm và kiến thức được thực hiện thông qua nhiều con đường như tiếp xúc với xung quanh, thông qua các giờ dạy có hệ thống là điều kiện cần thiết để giúp trẻ biết cách chơi [16]. Tóm lại, nhiều tác giả nghiên cứu trong nước đã tập trung làm rõ nhiều vấn đề về GDMN, đặc biệt là đã làm rõ vai trò, tầm quan trọng hoạt động vui chơi cho trẻ MG ở các trường MN. Vì vậy, nghiên cứu của luận văn sẽ tiếp cận và làm rõ ở góc độ quản lý HĐVC cho trẻ mẫu giáo ở các trường MN. Lý luận về hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non 1.
Khái niệm hoạt động vui chơi Tác giả Nguyễn Lân biên soạn trong từ điển “Từ và ngữ Việt Nam” đã định nghĩa chơi là hoạt động với mục đích được vui hay thỏa thích, tham dự các hoạt động cụ thể như: Thể thao, nhạc cụ. trong ngữ cảnh khác, chơi còn là hoạt động giao tiếp với người khác như kết bạn (chọn bạn mà chơi), thăm hỏi (đến chơi nhà).[17] Theo từ điển Wikipedia, chơi (Play) là một kiểu hoạt động mang đặc tính trí tuệ kết hợp với thế giới quan của con người hoạt động vui chơi có thể bao gồm những tương tác bên ngoài và bên trong tâm trí của người chơi, những tác động qua lại có tính vui thú, giả vờ tưởng tượng. Những kiểu hoạt động chơi được thể hiện rõ trong suốt quá trình phát triển tự nhiên của con người, đặc biệt trong quá trình phát triển nhận thức và xã hội hóa ở trẻ em. Hoạt động chơi thường đi kèm với đồ chơi, đồ vật và đạo cụ tùy theo hoàn cảnh học tập và tiêu khiển.
Một vài hoạt động chơi xác định mục đích rõ ràng và có cả luật chơi thì nó được gọi là trò chơi (Game)[18]. Spencer cho rằng: Chơi chính là sự giải tỏa năng lượng dư thừa ở trẻ em giống như con vật non. Những năng lượng dư thừa ở con vật không được sử dụng trong hoạt động thực nên đã được tiêu khiển qua việc bắt chước hành động thực đó bằng trò chơi. ở trẻ em, trò chơi là sự bắt chước bản thân và người lớn.
Trong trò chơi những bản năng nghịch ngợm phá phách của trẻ được đáp ứng. Tác giả Nguyễn Thị Hòa cho rằng “Vui chơi là một hoạt động tự lập của trẻ, vui chơi không tạo sản phẩm (kết quả vật chất) mà chủ yếu là thỏa mãn nhu cầu được chơi của trẻ (kết quả tinh thần), được hình thành thông qua việc bắt chước người lớn. Chơi của trẻ không chỉ là thật mà là giả vờ nhưng sự giả vờ ấy mang tính chân thực” [18]. Khái niệm hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo Theo lý thuyết tóm lược (Recappitulation Theory) cho rằng “HĐVC không phải là phạm trù hành vi của cá thể riêng biệt nhưng liên quan đến những hành vi trong quá trình tiến hóa loài người.
Các giai đoạn hoạt động vui chơi của trẻ phản ánh các giai đoạn phát triển của nhân loại, đi từ đơn giản đến phức tạp.