CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM 1. Khái quát về đầu tư bảo hiểm 1. Khái niệm về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và sự bảo trợ của Nhà nước, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và cho gia đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội. BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật BHYT.
BHTN là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ BHTN. BHXH, BHYT, BHTN ra đời, tồn tại và phát triển là một nhu cầu khách quan. Nền kinh tế hàng hóa càng phát triển, việc thuê mướn lao động trở nên phổ biến thì càng đòi hỏi sự phát triển và đa dạng của BHXH, BHYT, BHTN. Nền kinh tế hàng hóa phát triển là nền tảng, là cơ sở của BHXH, BHYT, BHTN.
BHXH, BHYT, BHTN được hình thành trên cơ sở quan hệ lao động, giữa các bên cùng tham gia và được hưởng các chế độ BHXH, BHYT, BHTN. Nhà nước ban hành các chế độ, chính sách BHXH, BHYT, BHTN, tổ chức ra cơ quan chuyên trách, thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt động BHXH, BHYT, BHTN. Chủ sử dụng và người lao động có trách nhiệm đóng góp để hình thành quỹ BHXH, BHYT, BHTN. Người lao động và gia đình của họ được cung cấp 5 e tài chính từ quỹ BHXH, BHYT, BHTN khi họ có đủ điều kiện hưởng theo chế độ BHXH, BHYT, BHTN quy định.
BHXH hoạt động theo nguyên tắc “cộng đồng - lấy số đông bù cho số ít” tức là dùng số tiền đóng góp nhỏ của số đông người tham gia BHXH để bù đắp, chia sẻ cho một số ít người với số tiền lớn hơn so với số đóng góp của từng người, khi họ gặp phải những biến cố rủi ro gây tổn thất; BHYT chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHYT; BHTN là bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHTN. Hoạt động BHXH, BHYT, BHTN là một loại hoạt động dịch vụ công, mang tính xã hội cao; lấy hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động. Hoạt động BHXH, BHYT, BHTN là quá trình tổ chức, triển khai thực hiện các chế độ, chính sách BHXH, BHYT, BHTN của tổ chức quản lý BHXH, BHYT, BHTN đối với người lao động tham gia và hưởng các chế độ BHXH, BHYT, BHTN. Trong đời sống kinh tế - xã hội, BHXH đóng vai trò to lớn được thể hiện trên các mặt sau: BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội.
Phân phối trong BHXH là sự chuyển dịch thu nhập mang tính xã hội, là sự phân phối lại giữa những người có thu nhập cao, thấp khác nhau theo xu hướng có lợi cho những người có thu nhập thấp; là sự chuyển dịch thu nhập của những người khỏe mạnh, may mắn có việc làm ổn định cho những người ốm, yếu, gặp phải những biến cố rủi ro trong lao động sản xuất và trong cuộc sống. BHXH góp phần phòng tránh và hạn chế tổn thất, đảm bảo an toàn cho sản xuất và đời sống xã hội của con người; làm cho mối quan hệ giữa người lao động, người sử dụng lao động và nhà nước ngày càng gắn bó; góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước. Quỹ BHXH thiết kế theo mô hình tồn tích thì luôn luôn có số dư tạm thời nhàn rỗi rất lớn. Đây chính là một nguồn vốn lớn để đầu tư phát triển kinh tế của đất nước.
Nguồn đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống tài chính quốc gia bao gồm 3 bộ phận cấu thành là NSNN, tài chính doanh nghiệp và các khâu tài chính trung gian. NSNN là một thể chế tài chính thể hiện tổng thể các quan hệ thu chi phát sinh và cân đối thu chi của Nhà nước trong một giai đoạn phát triển nhất định nhằm chi trả chi phí của bộ máy, thực hiện các chức năng và nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong giai đoạn đó. Tài chính doanh nghiệp là tổng thể các quan hệ thu chi, cân đối thu chi trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Các khâu tài chính trung gian là những định chế tài chính có chức năng chuyển vốn trong nền kinh tế, gồm tín dụng và bảo hiểm.
Tài chính BHXH thuộc khâu tài chính trung gian. Tài chính BHXH thể hiện mối quan hệ thu, chi của hệ thống BHXH do Nhà nước thực hiện và được thể chế hóa bằng các quy định pháp luật. Quỹ BHXH, BHYT, BHTN là một quỹ tiền tệ tập trung, là khâu tài chính trung gian trong hệ thống tài chính quốc gia. Quỹ được hình thành trên sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và có sự hỗ trợ đảm bảo bằng pháp luật của Nhà nước.
Quỹ BHXH tồn tại với mục đích bảo đảm ổn định cuộc sống cho người lao động và người phụ thuộc khi gặp rủi ro hoặc mất thu nhập từ lao động mà không nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời. a) Nguồn đầu tư từ quỹ BHXH Là nguồn thu vào quỹ BHXH chưa chi trả chính sách, chế độ BHXH. Nguồn đầu tư từ quỹ BHXH gồm nguồn đầu tư từ quỹ ốm đau, thai sản (quỹ ngắn hạn), quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (về cơ bản quỹ ngắn hạn), quỹ hưu trí, tử tuất (quỹ dài hạn). Nguồn thu BHXH, gồm: thu tiền đóng theo chế độ quy định, thu từ lãi chậm đóng, trốn đóng, lãi hoạt động đầu tư tăng trưởng, hỗ trợ của Nhà nước và các khoản thu hợp pháp khác (nếu có), trong đó nguồn thu từ tiền đóng 7 e theo chế độ là chủ yếu (chiếm khoảng 85-90% tổng số thu, không kể nguồn NSNN cấp để chi lương hưu, trợ cấp BHXH cho đối tượng do NSNN đảm bảo).
Chi BHXH, gồm: chi trả chính sách, chế độ ốm đau, thai sản, chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí và tử tuất: (1) Chế độ hưu trí: bao gồm chế độ lương hưu hàng tháng và chế độ BHXH một lần. (2) Chế độ tử tuất gồm: chế độ mai táng, trợ cấp tuất hàng tháng đối với thân nhân và trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân. (3) Chế độ ốm đau gồm: chế độ khi bị ốm đau, tai nạn hoặc phải nghỉ việc để chăm sóc con dưới 07 tuổi bị ốm đau và dưỡng sức phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau. (4) Chế độ thai sản gồm: chế độ nghỉ việc để đi khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý; nghỉ việc và hưởng chế độ thai sản khi sinh con cho đến khi con đủ 6 tháng tuổi, nghỉ và hưởng chế độ khi thực hiện các biện pháp tránh thai, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận con nuôi, chế độ dưỡng sức phục hồi sức khỏe và chế độ khi đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con.
(5) Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp gồm: chế độ khám, giám định thương tật do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần, trợ cấp phục vụ, hỗ trợ phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình; dưỡng sức phục hồi sức khỏe; hỗ trợ phòng ngừa, chia sẻ rủi ro về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. b) Nguồn đầu tư từ quỹ BHYT Là nguồn thu vào quỹ BHYT tiền tạm thời nhàn rỗi được sử dụng để đầu tư theo các hình thức quy định của Luật BHXH. HĐQL BHXH Việt Nam quyết định và chịu trách nhiệm trước Chính phủ về hình thức và cơ cấu đầu tư 8 e của quỹ BHYT trên cơ sở đề nghị của BHXH Việt Nam”. Nguồn đầu tư phụ thuộc vào nguồn thu và chi phí KCB BHYT, chi phí quản lý và các chi phí khác có liên quan.
Về nguồn thu quỹ BHYT: Số thu bao gồm thu từ tiền đóng BHYT, thu lãi chậm đóng, trốn đóng BHYT và lãi đầu tư tăng trưởng hàng năm từ quỹ BHYT, trong đó thu từ tiền đóng BHYT chiếm khoảng 97-98% tổng số thu quỹ BHYT. Về chi từ quỹ BHYT: Chi từ quỹ BHYT chủ yếu dành cho KCB BHYT. Theo quy định hiện hành 90% số tiền đóng BHYT dành cho KCB; 10% số tiền đóng BHYT dành cho quỹ dự phòng, chi phí quản lý quỹ BHYT, trong đó dành tối thiểu 5% số tiền đóng BHYT cho quỹ dự phòng. c) Nguồn đầu tư từ quỹ BHTN Nguồn đầu tư từ quỹ BHTN: từ nguồn quỹ BHTN tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng.
Theo quy định tại Điều 57 Luật Việc làm, nguồn hình thành quỹ BHTN bao gồm: các khoản đóng góp từ người lao động, người sử dụng lao động và hỗ trợ của Nhà nước; tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ; và nguồn thụ hợp pháp khác. Quỹ BHTN được sử dụng để chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động, hỗ trợ học nghề; hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm, đóng BHYT cho người hưởng trợ cấp thất nghiệp; chi phí quản lý BHTN. Tóm lại, Quỹ BHXH, BHYT, BHTN là quỹ quan trọng trong hệ thống các nguồn quỹ tại Việt Nam. Quỹ BHXH BHYT, BHTN được hình thành và sử dụng theo quy định của Luật pháp, quỹ BHXH BHYT, BHTN an toàn về tài chính, tức là phải có sự cân đối giữa nguồn thu vào và các khoản chi trả chế độ.
Chức năng vai trò chính chủ yếu của quỹ BHXH BHYT, BHTN là 9 e đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động. Do đó, để thực hiện được thì trước hết BHXH phải tự bảo vệ nó trước nguy cơ bị mất an toàn toàn chính. Để đảm bảo cân bằng tài chính thì nguyên tắc tổng số tiền hình thành nên quỹ phải bằng tổng số tiền chi ra và nguyên tắc này phải được thực hiện nghiêm túc.