Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THI ĐUA, KHEN THƯỞNG TRONG NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 1. Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài Hàng nghìn năm trước, hoạt động khen thưởng của con người được ghi nhận qua các bức họa bằng đá ở La-mã. Thế kỷ 19, một số phong trào hội thi, hội thao được tổ chức tại Châu Âu, phần lớn trong lĩnh vực nông nghiệp, chế tạo thủ công nghiệp, kinh doanh, giáo dục.
Giai đoạn này, các tổ chức lãnh đạo và nhà quản lý có tư tưởng tiến bộ đề xuất có thể cạnh tranh lành mạnh giữa cá nhân, hội nhóm và được nhận thưởng khi làm việc tốt bằng tiền mặt và sự công nhận danh dự. Hệ thống khen thưởng bao gồm phần thưởng tài chính và phần thưởng phi tài chính đã trở nên thúc đẩy làm việc ở mức năng suất cao hơn, tổ chức nói chung sẽ hoạt động hiệu quả và đạt được mục tiêu (Who, 1948, Wilson, T. 2004) Karl Marx (1818- 1883) chỉ rõ gốc rễ của cạnh tranh là chế độ tư hữu, điều đó cũng có nghĩa là trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, khi còn thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa, thì cạnh tranh vẫn tồn tại cùng với sự xuất hiện thi đua. Cạnh tranh có nhiều tiêu cực, song không thể thủ tiêu cạnh tranh bằng mệnh lệnh.
Trong khi cạnh tranh còn tồn tại, cần phải xây dựng chế độ mới với động lực thúc đẩy mới đó là thi đua. Karl Marx, Friedrich Engels (1820- 1895) đánh giá cao vai trò của sự hợp tác trong lao động, bởi nó tạo ra sức mạnh tập thể lớn hơn sức mạnh của từng lao động cá nhân cộng lại. Thi đua được nảy nở trong quá trình hợp tác lao động, trong hoạt động chung và có kế hoạch của nền sản xuất hiện đại. Sự tiếp xúc xã hội đã tạo ra thi đua và làm tăng năng suất lao động của người công nhân (C.Ăngghen, 2003) Vladimir Ilyich Lenin (1870- 1924) đã chỉ ra rằng thi đua có tính tự phát trong quá trình hiệp tác lao động có “sự tiếp xúc xã hội” của con người sẽ thay đổi về chất trong chế độ xã hội chủ nghĩa.
Thi đua và cạnh tranh là động lực phát triển kinh tế, 7 song, thi đua hơn hẳn cạnh tranh ở tính nhân đạo vì sự phát triển toàn diện của xã hội và con người. Thi đua xã hội chủ nghĩa trong quan điểm của V.Lê-nin là một hình thức hợp tác giữa người với người, góp phần phát triển năng lực của con người, phát triển của tính chủ động sáng tạo của nhân dân lao động và của chế độ dân chủ trong xã hội mới. Thi đua xã hội chủ nghĩa, ra đời trên cơ sở lao động tập thể, trên cơ sở những quan hệ tương trợ và hợp tác, đoàn kết theo tinh thần đồng chí, nhằm giúp đỡ những người lạc hậu dần dần tiến lên ngang những người tiên tiến, nâng cao trình độ văn hóa và trình độ sinh hoạt tinh thần của mọi người.Lê-nin coi thi đua là đòn bẩy mạnh mẽ của tiến bộ kinh tế - xã hội, là trường học giáo dục chính trị lao động và đạo đức cho nhân dân lao động (V. Lênin, 2005) Những quan điểm cơ bản của C.
Ăng-ghen, Lê nin về cạnh tranh và thi đua đã đặt nền tảng tư tưởng về tổ chức thi đua trong xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và trong chế độ xã hội chủ nghĩa tương lai. Việc tổ chức thi đua xã hội chủ nghĩa có xét đến đặc điểm các loại lao động, lợi ích, nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích nghề nghiệp của người lao động. Trong thế giới hiện đại, thi đua xã hội chủ nghĩa không tách rời cách mạng khoa học - công nghệ mà bao trùm tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân nói chung, ngành giáo dục và đào tạo nói riêng. Một số công trình nghiên cứu tại Việt Nam Cách mạng tháng tám thành công, khai sinh nhà nước Việt nam Dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Quốc lệnh ban hành 10 điều thưởng phạt ngày 26/1/1946, nêu rõ 10 loại công việc và thành tích cần được kịp thời khen thưởng; Sắc lệnh số 83/SL ngày 17/9/1947 thành lập Viện Huân chương, Sắc lệnh số 195-SL ngày 01/6/1968 thành lập Ban vận động thi đua ái quốc trung ương và cấp cơ sở.
Cùng với các văn bản trên, Nhà nước còn ban hành một số văn bản quy định các hình thức khen thưởng, góp phần động viên nhân dân cả nước thi đua lao động sản xuất và chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược (Ban Thi đua Khen thưởng Trung ương, 2008). Giai đoạn từ 1954 đến 1975: Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản về thi đua, khen thưởng. Ngoài một số văn bản quy định về danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng, các văn bản pháp luật thời kỳ này chủ yếu để hướng dẫn khen thưởng thành 8 tích kháng chiến; ở miền Nam, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam đã quyết định ban hành nhiều loại Huân chương, Huy chương, danh hiệu vinh dự nhà nước… tặng cho cán bộ, chiến sĩ, nhân dân miền Nam có thành tích xuất sắc trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu chống đế quốc Mỹ và tay sai (Ban Thi đua, khen thưởng Trung ương, 2010) Giai đoạn từ 1975 đến 2003: thống nhất tổ quốc và thời kỳ trước đổi mới (năm 1986), các văn bản chủ yếu quy định và hướng dẫn việc khen thưởng thành tích kháng chiến. Sau năm 1986, pháp luật về TĐKT cũng có nhiều tiến bộ.
Ngoài một số văn bản tiếp tục hướng dẫn khen thưởng kháng chiến, ngày 29/8/1994 Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh quy định danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam Anh hùng". Chính phủ ban hành Nghị định số 56/1998/NĐ-CP ngày 30/7/1998 quy định các hình thức, đối tượng và tiêu chuẩn khen thưởng của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp và nhiều văn bản pháp luật khác… Các văn bản ngày càng được hoàn thiện về nội dung, hình thức, thể thức và kỹ thuật thuật trình bày văn bản (Viện thi đua, khen thưởng nhà nước, 1999). Từ năm 2003 đến nay: Quốc hội thông qua Luật Thi đua, Khen thưởng ngày 26/11/2003 (Quốc hội, Luật số 15/2003/QH11, Luật Thỉ đua, Khen thưởng., 2003); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng ngày 14/6/2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 121/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng (Chính phủ, 2005).Nghị định số 122/2005/NĐ-CP ngày 04/10/2005 quy định tổ chức làm công tác TĐKT; Nghị định số 50/2006/NĐ-CP ngày 19/5/2006 quy định mẫu Huân chương, Huy chương, Huy hiệu, Bằng Huân chương, Bằng Huy chương, Cờ Thi đua, Bằng khen, Giấy khen. Nghị định định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ (Chính phủ, 2010)… Những văn bản nêu trên là những văn bản pháp luật tương đối hoàn chỉnh về TĐKTở Việt Nam hiện nay, được quy định khá thống nhất và chặt chẽ, thể hiện chính sách TĐKT của Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay (Ban Thi đua Khen thưởng Trung ương).
Trong hệ thống pháp luật TĐKT, cùng với Luật TĐKTđược Quốc hội thông qua, còn có các văn bản do Ủy ban thường vụ Quốc hội Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính 9 phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan khác của nhà nước ở trung ương, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành. Nhìn chung, các văn bản pháp luật nêu trên đã tạo ra khuôn khổ pháp lý có tính hệ thống, khá hoàn chỉnh cho công tác TĐKT (Bộ giáo dục & Đào tạo, 2015). Bên cạnh đó, nhận thức về pháp luật TĐKT có những biểu hiện lệch lạc, nặng hình thức và chạy theo thành tích (Đào Thị Thuý, 2013). Điều đó dẫn tới chỗ thực hiện khen thưởng tràn lan… Các hạn chế trong pháp luật cũng như thực hiện pháp luật như vậy ít nhiều làm cho ý nghĩa của công tác TĐKT bị lệch lạc, hình thức (Nguyễn Duy Bắc, Nguyễn Thị Hoài Thu, 2013).
Đã có nhiều công trình khoa học, đề tài nghiên cứu về công tác TĐKT ở những khía cạnh, lĩnh vực, phạm vi khác nhau được công bố, có thể nêu ra một số công trình tiêu biểu như: Một số sách chuyên khảo, tham khảo của các tác giả như: Lê Xuân Khánh (2013), Tăng cường quản lý nhà nước về TĐKT giai đoạn 2011-2020 (Lê Xuân Khánh, 2013); Ban TĐKT Trung ương: Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới TĐKTtrong giai đoạn hiện nay, Đề tài cấp nhà nước, Mã số đề tài: 02/2010 (Ban Thi đua Khen thưởng Trung ương); Theo tác giả Trần Quốc Tịch (2015),Vai trò của TĐKT trong việc xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, Báo điện tử Bộ Nội vụ ngày 29/7/2015.Theo tác giả, thông qua TĐKT mà phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của con người và những thành tựu, kinh nghiệm điển hình, khắc phục những khó khăn, hạn chế, thúc đẩy phong trào phát triển đi lên. Từ việc đánh giá những hạn chế, yếu kém trong công tác TĐKT của một số đơn vị hiện nay (Trần Quốc Tịch, 2015). Các công trình trên đã phần nào làm rõ những cơ sở lý luận cũng như thực tiễn trong công tác QLNN về TĐKT qua các giai đoạn từ khi thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đến nay; Phân tích thực trạng trong công tác QL nhà nước về TĐKT ở nước ta, những mặt đạt được, những bất cập cần khắc phục; đồng thời đưa ra các giải pháp để nâng cao chất lượng công tác QL nhà nước về TĐKT góp phần tạo ra động lực thúc đẩy xã hội ngày càng phát triển (Trung Kiên, 2007) Tác giả Phùng Thị Thanh Loan cho rằng “đổi mới công tác TĐKT góp phần tạo động lực cho cán bộ, công chức ngành tài chính trong điều kiện hiện nay”, tác giả 10 đã chỉ rõ các nguyên nhân và đề xuất bốn biện pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của TĐK Ttrong việc xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện.