Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động khoa học và công nghệ của giảng viên trường Cao đẳng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay - Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động khoa học và công nghệ của giảng viên Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa. - Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động khoa học và công nghệ của giảng viên Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA GIẢNG VIÊN TRƢỜNG CAO ĐẲNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO ỤC HIỆN NAY 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Từ nhận thức đúng đắn về vai trò của hoạt động KH&CN đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về cơ chế, chính sách, quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ như: Tác giả Nguyễn Danh Sơn với đề tài nghiên cứu cấp Bộ về Nghiên cứu chính sách khoa học và công nghệ của Việt Nam phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực [38]; Tác giả Ngô Tất Thắng về Nghiên cứu hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ quản lý khoa học và công nghệ của các Bộ trong tiến trình cải cách hành chính [39]; Tác giả Đặng Bá Lãm (chủ biên) với đề tài “Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực Khoa học công nghệ đáp ứng nhu cầu phát triển các lĩnh vực ưu tiên” [23]; Tác giả Nguyễn Thanh Thịnh với đề tài “Nghiên cứu quá trình tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ của các Viện nghiên cứu – triển khai thuộc Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia” [41]; Tác giả Đặng Hữu (chủ biên) với cuốn “KH&CN với sự phát triển KT-XH [21]; KH&CN phương pháp luận và thực tiễn, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội [30]; Tác giả V Cao Đàm với cuốn "Phương pháp luận nghiên cứu khoa học" [17].
Qua tác phẩm này tác giả đã trang bị cho người học cơ sở phương pháp luận nghiên cứu khoa học để người học được thực hành và triển khai nghiên cứu khoa học một cách có hiệu quả. 6 Giáo trình "Phương pháp luận nghiên cứu khoa học" của tác giả Lưu Xuân Mới” được viết theo tinh thần định hướng phát triển KH&CN trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước. Tác phẩm là sự đúc kết kinh nghiệm của tác giả qua thời gian giảng dạy và nghiên cứu chuyên đề này và nó đã phần nào đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu và học tập của HSSV cao học, NCS ở các Trường Đại học. [28]; Tác phẩm "Phương pháp luận nghiên cứu khoa học" của Phạm Viết Vượng [51] đã giúp cho HS,SV cao học, NCS có cách tiếp cận đúng trong việc thiết kế cấu trúc công trình nghiên cứu khoa học,tìm ra phương pháp nghiên cứu phù hợp…nhằm thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và đạt mục đích nghiên cứu; Tác giả V Tiến Thành chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu những biện pháp để phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ và lao động sản xuất trong nhà trường”.
Đề tài đã đóng góp những lý luận và giải pháp của công tác quản lý hoạt động khoa học và công nghệ của ngành Giáo dục và Đào tạo,1991[40]. Tác giả Ninh Đức Nhuận đã nghiên cứu “Một số giải pháp đổi mới công tác quản lý hoạt động khoa học và công nghệ ở trường Đại học trong giai đoạn mới. Đề tài đã đề xuất một số giải pháp đổi mới công tác quản lý hoạt động khoa học và công nghệ ở hệ thống các Trường Đại học nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý hoạt động khoa học và công nghệ cho các Trường đại học trong giai đoạn đó,1998 [32]. Bối cảnh KTXH đang biến đổi nhanh chóng.
Giáo dục đang đứng trước yêu cầu đổi mới cao hơn. Điều đó đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ của khoa học về quản lý giáo dục. Chính vì vậy việc quản lý hoạt động KH&CN của GV là một việc làm cấp bách và cần thiết, góp phần đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Kế thừa những thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, tác giả 7 tiếp tục tìm hiểu thực trạng công tác quản lý hoạt động KH&CN của GV từ đó đề xuất những biện pháp phù hợp nhằm quản lý tốt hoạt động KH&CN ở Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa góp phần nâng cao chất lượng GDĐT và vị thế của Nhà trường đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khoa học Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, học thuyết mới, … về tự nhiên và xã hội. Những kiến thức hay học thuyết tốt hơn, có thể thay thế dần những cái c , không còn phù hợp. Theo Tài liệu bồi dưỡng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giảng viên hạng I/hạng II, NXB GDVN 2017, Chuyên đề 8 của Bộ Giáo dục và đào tạo[8], khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về qui luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy.
Hệ thống tri thức gồm: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học. - TTKN: là những hiểu biết được tích l y qua hoạt động sống hàng ngày giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, giúp con người hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa những con người trong xã hội. - TTKH: là những hiểu biết được tích l y một cách có hệ thống thông qua hoạt động KHCN, các hoạt động này có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học. Khi hiểu ở một mức độ chung nhất thì khoa học chính là hệ thống tri thức về thế giới quan.
Tại Việt Nam, Luật Khoa học và Công nghệ[36] có chỉ rõ rằng: Khoa học bao gồm hệ thống tri thức về những hiện tượng, sự vật, quy luật trong tự nhiên, trong xã hội và trong chính tư duy của con người. Khi nhìn từ góc độ hoạt động thì khoa học sẽ được hiểu chính là lĩnh vực hoạt động đặc biệt của con người. Đây là loại hình hoạt động mang tính mục đích khám phá ra bản chất, quy luật vận động của thế giới. Từ đó ứng 8 dụng toàn bộ sự hiểu biết, khám phá được vào trong sản xuất và trong đời sống xã hội.
Thực chất, đối với góc độ hoạt động này thì khoa học chính là một hoạt động khoa học và công nghệ, là một quá trình tạo ra tri thức mới cho toàn nhân loại. Công nghệ Công nghệ là một thuật ngữ xuất phát từ chữ Hy lạp là “Techne” mang ý nghĩa là nghệ thuật, kỹ năng và “Logia” có nghĩa là khoa học, nghiên cứu. Tại đất nước Việt Nam thì đã từng có quan niệm về khái niệm công nghệ rằng: Công nghệ chính là kiến thức, là kết quả của khoa học ứng dụng có mục đích biến đổi nguồn lực trở thành mục tiêu để sinh lời. Đến ngày nay, cách hiểu được cho là phổ biến, là phù hợp nhất đối với những chính sách quản lý, phát triển và quan điểm về công nghệ đã được quy định cụ thể, rõ ràng tại Luật Khoa học và Công nghệ như sau: Công nghệ chính là một tập hợp của những quy trình kỹ năng, phương pháp, công cụ, bí quyết, phương tiện được sử dụng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.
Hoạt động khoa học và công nghệ Tại khoản 4, Điều 3, Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013[36], hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm các hoạt động: khoa học và công nghệ, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ. Quản lý Trong khoa học và công nghệ, có rất nhiều quan niệm về quản lý theo những cách tiếp cận khác nhau. Sau đây là một số định nghĩa về quản lý thường gặp: - Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng quản lý là 9 quá trình hoạt động gồm bốn chức năng cơ bản: Kế hoạch hoá; tổ chức; lãnh đạo/chỉ đạo và kiểm tra [13]. Tóm lại, quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật.
Có nhiều cách tiếp cận khái niệm quản lý, trong nghiên cứu đề tài này tác giả chọn cách tiếp cận theo chức năng. Theo cách phân loại phổ biến, quản lý có bốn chức năng: Chức năng kế hoạch hóa, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo, chức năng kiểm tra đánh giá.1: Mô hình các chức năng quản lý trong một chu trình quản lý 1. Quản lý hoạt động khoa học và công nghệ của giảng viên Từ khái niệm hoạt động khoa học và công nghệ của Giảng viên cùng khái niệm quản lý đã phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm quản lý hoạt động khoa học và công nghệ của giảng viên như sau: quản lý hoạt động khoa học và công nghệ của giảng viên là những tác động của chủ thể quản lý, ở đây là hiệu trưởng trường cao đẳng trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức và hiệu quả cao nhất các hoạt động khoa học và công nghệ, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học 10 và công nghệ, phát triển kho tàng kiến thức liên quan đến con người, tự nhiên và xã hội và sử dụng những kiến thức đó để tạo ra những ứng dụng mới. Một số vấn đề lý luận về hoạt động khoa học và công nghệ ở trƣờng Cao đẳng 1.
Vai trò của hoạt động khoa học và công nghệ ở Trường Cao đẳng Đào tạo và NCKH là 2 nhiệm vụ trọng tâm và cơ bản của Nhà trường. Hai hoạt động này có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, hỗ trợ nhau cùng phát triển. Khi hoạt động đào tạo là quá trình dạy và học thì hoạt động KH&CN được tổ chức dưới các hình thức nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Hoạt động KH&CN góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, tạo ra các sản phẩm trí tuệ.