Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Các khái niệm cơ bản 1. Đội ngũ giáo viên trung học cơ sở GV là những người được đào tạo về chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, làm nhiệm vụ giảng dạy tại các cơ sở giáo dục. Theo Điều 70, mục 1, chương IV, Luật Giáo dục năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định: “1.
Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác. Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây: a) Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt; b) Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ; c) Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; d) Lý lịch bản thân rõ ràng; 3. Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp gọi là GV. Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng nghề gọi là giảng viên”[44, tr.
Khi đề cập đến ĐNGV, một số tác giả nước ngoài đã nêu lên quan niệm "ĐNGV là những chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, họ nắm vững tri thức và hiểu biết dạy học và giáo dục như thế nào và có khả năng cống hiến toàn bộ sức lực và tài năng của họ đối với giáo dục" [28, tr. Về vấn đề này, tác giả Nguyễn Minh Đường cho rằng: "ĐNGV trong ngành giáo dục là tập thể người, bao gồm CBQL, GV, nhân viên; nếu chỉ đề cập đến đặc điểm của ngành thì đội ngũ đó chủ yếu là ĐNGV và CBQL giáo dục"[28, tr. 17 Nhìn chung, các cách quan niệm về ĐNGV trên đây được hiểu theo nội hàm khá rộng; đó là tập hợp người làm nghề dạy học - giáo dục (cả GV trực tiếp giảng dạy và CBQL giáo dục), được tổ chức thành một lực lượng (có tổ chức), cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện mục tiêu giáo dục đã đề ra cho tập thể đó, tổ chức đó. Họ làm việc có kế hoạch và gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ quy định của pháp luật, của thể chế xã hội.
Họ chính là nguồn nhân lực quan trọng trong lĩnh vực giáo dục. Như vậy, GV trường THCS là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục học sinh ở bậc THCS; gồm: HT, Phó HT, GV bộ môn, GV làm công tác Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Theo quy định, trình độ chuẩn đào tạo của GV trường THCS: có bằng tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm, Đại học sư phạm hoặc có bằng tốt nghiệp ĐH và có chứng chỉ bồi dưỡng NVSP. Từ cách tiếp cận trên đây, chúng tôi cho rằng đội ngũ giáo viên THCS là những người trực tiếp làm nhiệm vụ dạy học, giáo dục tại các nhà trường THCS, đủ tiêu chuẩn về phẩm chất và trình độ học vấn theo quy định của Luật Giáo dục.
ĐNGV bậc THCS là tập hợp những người làm nghề dạy học - giáo dục được tổ chức thành một lực lượng, có chung một lý tưởng, mục đích, nhiệm vụ là tạo ra sản phẩm giáo dục “Nhân cách - Sức lao động”. Chức năng, nhiệm vụ cơ bản của GV nhà trường THCS là: Dạy học và giáo dục theo chương trình, kế hoạch giáo dục; soạn bài; dạy thực hành thí nghiệm, kiểm tra, đánh giá theo quy định; theo dõi, ghi chép kết quả học tập, rèn luyện của học sinh, lên lớp đúng giờ, quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức, tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn; Tham gia công tác phổ cập giáo dục ở địa phương; Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục; 18 Thực hiện Điều lệ nhà trường; thực hiện quyết định của HT, chịu sự kiểm tra của HT và các cấp QLGD; Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo, gương mẫu trước học sinh, thương yêu, tôn trọng học sinh, đối xử công bằng với học sinh, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của học sinh, đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp; Phối hợp với GV chủ nhiệm, các GV khác, gia đình học sinh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh trong dạy học và giáo dục học sinh. Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật. Quản lý đội ngũ giáo viên Theo quan niệm chung nhất: “Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [51, tr.
Thực chất quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra. Đó là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung. Bản chất của quản lý là một loại lao động để điều khiển lao động; vì thế, các loại hình lao động phong phú, phức tạp thì hoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng. Nội hàm khái niệm quản lý phản ánh đó là hoạt động phối hợp nhiều người, nhiều yếu tố; chủ thể quản lý định hướng các hoạt động đó theo một mục tiêu nhất định, kiểm soát được tiến trình của hoạt động trong quá trình tiến tới mục tiêu.
Là một bộ phận của quản lý xã hội, QLGD là hệ thống các tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QLGD lên đối tượng nhằm đạt MTGD đề ra. QLGD bao gồm hai cấp độ chủ yếu, đó là vĩ mô và vi mô. Quản lý vĩ mô 19 tương ứng với khái niệm quản lý một nền giáo dục (hệ thống giáo dục) và quản lý vi mô tương ứng với khái niệm về quản lý một nhà trường.Khuđôminxky và tác giả Trần Kiểm đều quan niệm: QLGD là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và định hướng của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm đạt mục đích quản lý nhất định. Ở cấp độ vi mô, QLGD được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào quá trình GD - ĐT của cơ sở đào tạo nhằm hình thành, phát triển các phẩm chất nhân cách của người học theo mô hình, mục tiêu GD - ĐT.
Quản lý ĐNGV là nội dung thuộc phạm trù QLGD, đó là quản lý nguồn nhân lực. Ở cấp độ vi mô, quản lý ĐNGV nằm trong nội dung quản lý nhân sự nhà trường, đây là nguồn tài nguyên vô giá, quyết định chất lượng giáo dục của nhà trường. Theo đó, Quản lý ĐNGV là hệ thống những tác động của chủ thể quản lý trong việc xây dựng, sử dụng, phát triển lực lượng GV đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giáo dục - đào tạo của nhà trường. Thực chất quản lý ĐNGV là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý (người CBQL giáo dục) tới người lao động (GV) như: kế hoạch hoá nguồn nhân lực; xây dựng quy hoạch; tuyển chọn; đào tạo, bồi dưỡng; sử dụng; đánh giá năng lực thực hiện và đãi ngộ nhằm đạt được mục đích phát triển nhân lực của tổ chức nhà trường.
Mục tiêu quản lý ĐNGV là phát triển đội ngũ nhà giáo, bảo đảm phát triển theo kế hoạch, nâng cao về chất lượng, có cơ cấu phù hợp với nhiệm vụ GD - ĐT của nhà trường. Nội dung quản lý ĐNGV bao gồm quản lý về chất lượng, số lượng, về cơ cấu nhân sự từng môn học và sự phát triển của nhà trường. 20 Quản lý ĐNGV cũng phải được thực hiện đầy đủ các nội dung của quá trình quản lý nguồn nhân lực như: Kế hoạch hoá ĐNGV, tuyển dụng, lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng, đề bạt, chuyển đổi, phân định trách nhiệm trong quản lý,. Phương thức quản lý ĐNGV được thực hiện bằng các cách thức, biện pháp nhà quản lý sử dụng quyền lực quản lý tác động đến ĐNGV một cách có chủ đích nhằm phát huy hết tiềm năng của họ hướng vào việc đạt mục tiêu chung của nhà trường.
Nói cách khác, quản lý ĐNGV là làm cho đội ngũ này luôn luôn vận động tự làm mới mình bằng con đường biết “Học - Hỏi - Hiểu - Hành”. Đây là phương châm hành xử của con người hiện đại cũng là phương châm hành xử của mỗi tập thể. Người quản lý nhà trường phải tạo ra phương châm hành xử này cho từng người và cho cả tập thể - chủ yếu là tập thể GV của trường nhằm hướng tới việc xây dựng “Văn hóa nhà trường” và hình thành “Tổ chức học hỏi”. Quản lý đội ngũ giáo viên của hiệu trưởng trường trung học cơ sở Luật Giáo dục hiện hành quy định: "HT là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm và công nhận.
HT các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân thì phải được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý trường học"[44, tr. Quản lý ĐNGV, nhân viên là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của HT. Quản lý ĐNGV của HT là hoạt động quản lý chuyên biệt, bao gồm hệ thống những tác động của HT trong việc xây dựng, sử dụng, phát triển lực lượng GV về mọi mặt; góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường. Quản lý ĐNGV của HT được thực hiện bằng hệ thống những biện pháp mà HT tác động đến các thành tố cấu trúc của ĐNGV nhằm giải quyết các vấn đề tồn tại của đội ngũ này và phát triển nó theo mục tiêu đã được xác định, đáp ứng yêu cầu của bối cảnh mới.
21 Quản lý ĐNGV của HT trường THCS được thể hiện thông qua vai trò, nhiệm vụ của HT trong quản lý ĐNGV. Cụ thể là: Trong nhà trường, HT là người có vai trò quan trọng; ngày nay trong trào lưu đổi mới, cải tiến phương pháp quản lý và dân chủ hoá nhà trường, nhằm phát huy cao độ tính tích cực của ĐNGV thì vai trò của người HT càng nổi bật lên hơn bao giờ hết. HT là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường, do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận.