phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị tài liệu tham khảo các phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo hƣớng tiếp cận năng lực học sinh ở trƣờng THPT. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo hƣớng tiếp cận năng lực học sinh ở trƣờng THPT huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo hƣớng tiếp cận năng lực học sinh ở trƣờng THPT huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TRƢỜNG THPT 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về dạy học theo tiếp cận năng lực John Dewey (1859-1925) là nhà sƣ phạm ngƣời Mỹ, góp phần lớn vào việc canh tân giáo dục, đề cao hoạt động đa dạng của học sinh, đặc biệt là hoạt động thực tiễn để bổ sung vào kiến thức của học sinh ngoài sách giáo khoa và lời giảng của giáo viên. Ông đặc biệt chú ý đến hoạt động học khi viết: “Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục, nói không phải là dạy, nói ít hơn, chú ý nhiều đến việc tổ chức hoạt động của học sinh” (dẫn theo [24]). Nhiều nhà giáo dục có tƣ tƣởng tiến bộ đã chú ý đến dạy học hƣớng vào ngƣời học, khai thác tiềm năng của mỗi cá nhân HS.
Thế kỷ XX, J.Dewey (1916) cho rằng GD và dạy học là sự chỉ dẫn phát triển tiềm năng, năng lực vốn có của HS. Việc học tập là quá trình xử lý kinh nghiệm mà ngƣời học tự tiến hành với sự giúp đỡ của nhà GD theo nhu cầu và lợi ích cá nhân. Qúa trình dạy học phải hƣớng vào ngƣời học, đảm bảo cho họ học bằng sự phân tích kinh nghiệm của mình. Nhƣ vậy, dạy học phải chú ý đến cái riêng của mỗi ngƣời, đặc biệt là nhu cầu, hứng thú.
Dạy học dựa trên kinh nghiệm cá nhân và hiệu quả học tập do từng ngƣời quyết định (dẫn theo [31]). Trần Thị Sáu tập trung nghiên cứu vấn đề Các biện pháp chỉ đạo đổi mới PP giảng dạy bộ môn Tiếng Việt bậc tiểu học, năm 2006 (dẫn theo [29]). Luận văn cũng đã chỉ ra các biện pháp để chỉ đạo đổi mới phƣơng pháp giảng dạy bộ môn tiếng Việt bậc tiểu học ở Thành phố Hồ Chí Minh nhƣ: Xây dựng kế hoạch thực hiện chƣơng trình tiểu học mới; Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ QL tiểu học; Chỉ đạo thực hiện một số phƣơng pháp mới trong giảng dạy tiếng Việt: Dạy tiếng Việt theo định hƣớng giao tiếp; Phƣơng pháp tổ chức trò chơi 6 học tập tiếng Việt; Phƣơng pháp học tập hợp tác; Ứng dụng công nghệ thông tin để giảng dạy môn tiếng Việt; Tăng cƣờng kiểm tra đánh giá. Nguyễn Thị Hồng Vân (2017) với tiêu đề “Dạy học môn ngữ văn cấp trung học cơ sở theo mô hình trường học mới” [34].
Việc tổ chức dạy học môn Ngữ văn cấp THCS theo mô hình trƣờng học mới vừa đảm bảo nội dung và chuẩn của chƣơng trình và sách giáo khoa Ngữ văn THCS hiện hành, đồng thời có sự đổi mới theo hƣớng triển khai nội dung bài học theo các hoạt động học tập của học sinh, tăng cƣờng tính tự chủ, sự chia sẻ, hợp tác trong quá trình học nhằm phát triển năng lực ngƣời học. Bài viết tập trung nghiên cứu làm rõ: những điểm kế thừa và những điểm mới của tài liệu Hƣớng dẫn học Ngữ văn THCS; tiến trình tổ chức 5 hoạt động của mô hình theo quan điểm kiến tạo và định hƣớng phát triển năng lực của học sinh; tính mở và linh hoạt của mô hình. Những nghiên cứu về quản lý dạy học môn Ngữ Văn theo tiếp cận năng lực Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã định hƣớng cho hoạt động giáo dục nhƣ các qui luật "Sự hình thành cá nhân con người"; "Tính qui định về kinh tế - xã hội đối với giáo dục". Các qui luật này đặt ra yêu cầu đối với QLGD và tính ƣu việt của xã hội đối với việc tạo ra các phƣơng tiện và điều kiện cần thiết cho GD.
Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhiều nhà khoa học giáo dục đã có những thành tựu khoa học đáng trân trọng về QLGD và quản lý dạy học [32]. Các nhà nghiên cứu giáo dục Nga đã khẳng định rằng: “Kết quả toàn bộ hoạt động quản lý của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý hoạt động giảng dạy của đội ngũ giáo viên” [32].Saxerđôtôp đi sâu nghiên cứu việc lãnh đạo trong công tác giảng dạy, giáo dục ở nhà trƣờng và xem đây là khâu then chốt trong hoạt động quản lý của ngƣời Hiệu trƣởng.Xukhomlinxki, Jaxapob nêu ra một số vấn đề quản lý của Hiệu trƣởng trƣờng phổ thông nhƣ sự phân công nhiệm vụ giữa 7 Phó Hiệu trƣởng và Hiệu trƣởng. Các tác giả thống nhất khẳng định ngƣời Hiệu trƣởng phải là ngƣời lãnh đạo toàn diện và chịu trách nhiệm chính trong công tác quản lý nhà trƣờng. Về việc tổ chức dự giờ và phân tích sƣ phạm bài giảng, tác giả V.Xukhomlinxki nhấn mạnh hoạt động dự giờ thăm lớp và đƣa ra nhiều cách phân tích sƣ phạm bài dạy cho giáo viên.
Ông cho rằng đó là đòn bẩy nâng cao chất lƣợng giảng dạy của đội ngũ giáo viên [dẫn theo 21]. Năm 1987, Viện Quản lý và Kinh tế giáo dục thuộc Viện hàn lâm sƣ phạm Liên Xô (cũ) đã tổng kết những thành tựu nghiên cứu về quản lý trƣờng học qua nhiều năm, trình bày quan điểm mới về quản lý giáo dục nói chung và quản lý hoạt động học nói riêng về các thác giả Xô Viết (cũ) tính đến thời điểm đó. Các nhà nghiên cứu quản lý giáo dục Xô Viết cho rằng “Kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác hoạt động của đội ngũ giáo viên”. Đó chính là hoạt động quản lý hoạt động dạy học (dẫn theo [31]).
UNESCO suốt chiều dài lịch sử tồn tại của mình đã tập hợp các học giả trên thế giới để nghiên cứu vấn đề quản lý giáo dục dựa trên quy mô toàn cầu cũng nhƣ trong phạm vi khu vực hoặc quốc gia. Từ năm 1964, trong loạt sách về kế hoạch hóa giáo dục đã tập hợp các khuynh hƣớng khác nhau về một trong các vấn đề quan trọng của quản lý giáo dục đó là kế hoạch giáo dục. Đầu những năm 90, UNESCO PROAP đã xuất bản cuốn sách có tính cẩm nâng về quản lý giáo dục mang tựa đề “Kế hoạch hóa và quản lý giáo dục vi mô”. Trong những năm của thế kỷ XX, sách báo về quản lý giáo dục đã xuất hiện khá nhiều, điển hình là những công trình đề cập đến những quan điểm mới về quản lý giáo dục nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng (dẫn theo [24]).
Tác giả Brent Davie, Linda Ellison, Christopher Borwing - Carr (2005) với công trình “lãnh đạo nhà trường thế kỷ 21” đã nêu đƣợc hoạch định chiến lƣợc phát triển nhà trƣờng, quản lý sự thay đổi, lãnh đạo và quản lý chất lƣợng, quản lý việc giảng dạy và học tập, vai trò của giáo viên trong 8 việc tổ chức học tập, sử dụng công nghệ thông tin trong việc đổi mới phƣơng pháp dạy học (dẫn theo [31]). Nhƣ vậy, vấn đề quản lý hoạt động dạy học đã đƣợc đề cập tới trong nhiều công t nh nghiên cứu ở nƣớc ngoài. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều hƣớng vào mục đích nâng cao chất lƣợng dạy học. Theo đó, vấn đề phối hợp hoạt động dạy học trên lớp, phân hóa dạy học, cải tiến phƣơng pháp dạy học… đƣợc các tác giả quan tâm nghiên cứu.
Các nghiên cứu về vấn đề QLHĐ dạy học môn Ngữ văn ở trong nƣớc hiện nay thể hiện thông qua một số công trình: Bài báo của Nguyễn Thị Tịnh (2019), “Thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn ngữ văn ở các trường THCS thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu”, Tạp chí giáo dục số 461, tr. Bài viết phân tích thực trạng công tác quản lí HĐTN trong DH môn Ngữ văn ở các trƣờng THCS TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, là cơ sở để nghiên cứu, đề xuất các biện pháp quản lí khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác này trên địa bàn tỉnh [29]. Có thể thấy, các giải pháp đƣa ra đã bám sát chu trình quản lý và tập trung vào đổi mới phƣơng pháp dạy học.
Tuy nhiên các giải pháp đƣa ra chƣa mới, chƣa chỉ ra đƣợc sự phối hợp giữa các biện pháp để tăng cƣờng hiệu quả quản lý. Tác giả Đỗ Văn Tuấn với công trình: Những biện pháp quản lý dạy học môn văn ở trường trung học phổ thông Trần Nguyên Hãn - TP Hải Phòng, năm 2008 đã đƣa ra những biện pháp quản lý dạy học môn văn ở trƣờng phổ thông trung học Trần Nguyên Hãn [31]. Có thể thấy, các biện pháp mà tác giả đƣa ra khá toàn diện, phong phú. Vấn đề QLHĐ DH đã thực sự trở thành mối quan tâm của nhiều nhà giáo dục.
Bởi qua việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn, các nhà giáo dục mới có thể quản lý tốt nhà trƣờng, nâng cao chất lƣợng dạy và học. Gần đây, tác giả Phạm Thị Thanh Thủy với công trình Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn tại trường THCS Giảng Võ - Ba Đình - Hà Nội, 9 2010 đã tập trung nghiên cứu và đề xuất xây dựng các nhóm biện pháp: Nhóm biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn; Nhóm biện pháp quản lý hoạt động xây dựng và thực hiện kế hoạch; Nhóm biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh; Nhóm biện pháp quản lý việc sử dụng cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học [33]. Trần Xuân Ngọc (2013), “Nâng cao chất lượng công tác quản lý hoạt động giảng dạy môn ngữ văn của hiệu trưởng một số trường THCS huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định”, Tạp chí Giáo dục số 310, tháng 5. Bài báo đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy môn ngữ văn của hiệu trƣởng một số trƣờng THCS huyện Vụ Bản, từ đó đƣa ra nhóm biện pháp nhằm nâng cao quản lý hoạt động giảng dạy môn ngữ văn của hiệu trƣởng một số trƣờng THCS huyện Vụ Bản [24].
Phạm Thị Thu Hà (2015), công trình “Quản lý đổi mới phương pháp dạy học môn ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực người học tại các trường THCS huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh” [11].