Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý dạy học môn Toán theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở trường tiểu học. Chương 2: Thực trạng quản lý dạy học môn Toán theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở các trường tiểu học, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Chương 3: Biện pháp quản lý dạy học môn Toán theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở các trường tiểu học, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN TOÁN THEO CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC 1.
Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học là vấn đề đã được quan tâm ở nhiều nước phương Tây. Các nhà nghiên cứu giáo dục Nga khẳng định rằng: “Kết quả toàn bộ hoạt động quản lý của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý hoạt động giảng dạy của đội ngũ GV” [29].Saxerđôtôp đi sâu nghiên cứu lãnh đạo công tác giảng dạy, giáo dục trong nhà trường và xem đây là khâu then chốt trong hoạt động quản lý của Hiệu trưởng [29].Xukhomlinxki, Jaxapob nêu ra một số vấn đề quản lý của Hiệu trưởng trường phổ thông như phân công nhiệm vụ giữa Hiệu trưởng và phó hiệu trưởng. Các tác giả thống nhất khẳng định người Hiệu trưởng phải là người lãnh đạo toàn diện và chịu trách nhiệm chính trong công tác quản lý nhà trường.
Về tổ chức dự giờ và phân tích sư phạm bài dạy, tác giả V.Xukhomlinxki nhấn mạnh hoạt động dự giờ thăm lớp và đưa ra nhiều cách phân tích sư phạm bài dạy cho GV. Ông cho rằng đó là đòn bẩy nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ GV [15]. Nhà giáo dục Karl Rogers đưa ra mô hình dạy học trong đó quan tâm tới mục đích hoạt động dạy học (nhằm tạo một môi trườnghọc tập cho HS); tổ chức hoạt động dạy học (chủ yếu sử dụng phương pháp đối thoại, trao đổi); kĩ thuật dạy học, (cho phép người học lựa chọn những PP lập luận riêng, từ những nỗ lực cá nhân mà giải quyết nhiệm vụ học tập; lôi cuốn sự tham gia của người học bằng cách tôn trọng những thắc mắc, những ý kiến đối lập và sử dụng 7 chúng tạo sức thúc đẩy cho bài học); kết quả dạy học, cho phép người học xác lập các chuẩn đánh giá mức tiến bộ của mình [14, tr. Cùng với Rogers, Kurt Lewin (1895 - 1947) đã xây dựng lý thuyết hoạt động dạy học hướng vào từng cá nhân.
Nền tảng của lý thuyết này là cách thức hoạt động dạy học phải liên kết các cá nhân, ở đó người học phụ thuộc lẫn nhau nhưng không đồng nhất với nhau. Những thay đổi về hành vi cá nhân biểu hiện sự thay đổi trong nhận thức, thái độ của người học hay nói cách khác là có sự tác động qua lại giữa người học với môi trường học tập [12, tr. Trong thế kỷ XX, Jonh Dewey (1859-1952) là một nhà triết học, nhà tâm lí học đồng thời là nhà giáo dục vĩ đại của nước Mỹ, ông cho rằng: “Trường học không đơn thuần là nơi người lớn dạy cho trẻ các bài học kiến thức và bài học lý luận, trường học phải là một cộng đồng dân chủ trong đó mọi hoạt động được tập trung nhằm tạo ra hiệu quả nhất trong việc chia sẻ cho người học di sản tri trức của nhân loại và làm cho họ có thể sử dụng tài năng của mình vào mục đích xã hội” [28]. Như vậy để người học có thể phát triển toàn diện mọi khả năng của mình để tham gia vào đời sống xã hội thì nhà trường và giáo viên phải tạo ra một môi trường trong đó những hoạt động của trẻ chứa đựng những tình huống khăn, có vấn đề để từ đó người học tự tìm tòi và xây dựng kiến thức thông qua kinh nghiệm, trải nghiệm và tư duy của chính bản thân mình.
Trong cuốn sách “Phát huy tích cực của học sinh như thế nào” I.Kharlamop đã khẳng định vai trò to lớn của tính tích cực, chủ động trong việc tiếp thu tri thức mới. Ông cho rằng: “Quá trình nắm kiến thức mới không thể hình thành bằng cách học bình thường các quy tắc, các kết luận khái quát hóa mà nó phải được xây dựng trên cơ sở của việc cải tiến công tác tự lập của học sinh, của việc phân tích logic sâu sắc tài liệu, sự kiện làm nền tảng cho việc hành thành các khái niệm khoa học” [dẫn theo 28]. Học sinh phải liên tục được khuyến khích tham gia vào các hoạt động giáo dục của nhà trường. Giáo viên không phải là người “ban phát” kiến thức, không phải là một vị quan tòa mà là một 8 thành viên trong cộng đồng lớp học, có nhiệm vụ là một tác nhân kích thích bằng việc cung cấp vật liệu, đầu mối, thông tin, gợi ý, tổ chức, hướng dẫn.
để kích thích tư duy của người học, tức là giáo viên có thể tạo một môi trường khuyến khích sự học tập, nghiên cứu. Muốn vậy, giáo viên phải là một chuyên gia được đào tạo tốt, một người hiểu biết giáo dục toàn diện. Phương pháp dạy học cũng phải gắn chặt với đối tượng và nội dung, phương pháp là phương pháp của năng lực và hứng thú của trẻ em, của cá nhân đang trưởng thành, chứ không phải là phương pháp của người lớn (những người đã trưởng thành), bởi vậy không thể tách rời phương pháp ra khỏi nội dung, mục tiêu, chương trình giáo dục. Đối với hoạt động dạy học môn Toán, V.
Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu khác cũng có đề cập đến vấn đề phương pháp dạy học, đó là các công trình của Piagiet, Lêônchiep, Đannhilốp, Êxipốp, Lecne, Babansky. Những công trình này đi sâu vào các kỹ thuật dạy học cụ thể [dẫn theo 28]. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến vấn đề phát triển tâm lý, quá trình nhận thức của học sinh trong dạy học; các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh, vấn đề quản lý hoạt động dạy học. Các kết quả nghiên cứu là cơ sở để các nhà khoa học, các nhà giáo dục tiếp tục nghiên cứu và phát triển.
Ở Việt Nam Ở nước ta, nhiều nhà sư phạm và quản lý giáo dục đã tiến hành nghiên cứu về vị trí, vai trò của việc quản lý quá trình dạy học, ý nghĩa của việc nâng cao 9 chất lượng dạy học trên lớp đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục. Tiêu biểu là các tác giả: Đặng Quốc Bảo [1], Trần Kiểm [16], Hà Thế Ngữ [19], Nguyễn Ngọc Quang [23]… Chẳng hạn, đề cập đến quản lý dạy học trong trường học, tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã nêu rõ: “Dạy học và giáo dục trong sự thống nhất là hoạt động trung tâm của nhà trường” [23; tr. Tác giả Bùi Minh Hiền và Vũ Ngọc Hải thì khẳng định: “Quản lý các trường và quản lý các cơ quan trong hệ thống giáo dục có vai trò rất quan trọng cho sự thành bại của sự nghiệp giáo dục” [10; tr.14]… Các nghiên cứu của các tác giả nêu trên chủ yếu tập trung vào các vấn đề về vị trí, vai trò của việc quản lý quá trình dạy học; ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng dạy học trên lớp đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục, những ưu điểm và nhược điểm của việc quản lý hoạt động dạy học trên lớp; bản chất và mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học, vai trò của người dạy và người học trong quá trình dạy học; quản lý việc đổi mới nội dung và cách thức tổ chức hoạt động dạy học trên lớp. Các nghiên cứu này có giá trị lý luận và thực tiễn, có khả năng ứng dụng rộng rãi mang lại hiệu quả to lớn trong phát triển sự nghiệp giáo dục nước nhà.
Nghiên cứu về hoạt động dạy học môn Toán có thể kể tới một số công trình của các tác giả gần đây. Chẳng hạn, tác giả Nguyễn Bá Kim nghiên cứu về các phương pháp dạy học môn Toán. Tác giả cho rằng ngoài hình thức dạy học trên lớp còn có thể tổ chức những hoạt động thực hành mônToán ngoài nhà trường như ở nhà máy, công xưởng, đồng ruộng, kể cả những hoạt động có tính chất tập dượt nghiên cứu bao gồm cả các khâu đặt bài toán, xây dựng mô hình, thu thập dữ liệu, xử lí mô hình để tìm lời giải, đối chiếu lời giải với thực tế để kiểm tra và điều chỉnh. Ông cũng đề cập đến phương tiện trực quan trong dạy học môn Toán: “Phương tiện trực quan tượng trưng là một hệ thống kí hiệu quy ước nhằm biểu diễn tính chất muốn nghiên cứu tách rời khỏi tất cả các tính chất khác của đối tượng và hiện tượng” [17].
10 Cuốn “Khơi dậy tiềm năng sáng tạo” của tác giả Nguyễn Cảnh Toàn có đề cập đến việc phát huy tính sáng tạo của HS thông qua dạy học môn Toán; cuốn “Phương pháp dạy học môn Toán” của tác giả Nguyễn Bá Kim nói về nội dung của môn Toán, định hướng quá trình dạy học Toán, phương pháp dạy học môn Toán; tác giả Nguyễn Văn Cường đã đề cập đến phương tiện trực quan trong dạy học môn Toán: “Phương tiện trực quan tượng trưng là một hệ thống kí hiệu quy ước nhằm biểu diễn tính chất muốn nghiên cứu tách rời khỏi tất cả các tính chất khác của đối tượng và hiện tượng” [Dẫn theo 28]. Theo tác giả Phạm Văn Hoàn, trong công tác bồi dưỡng HS giỏi môn Toán cần rèn luyện cho HS tác phong, phương pháp nghiên cứu và thói quen tự đọc sách. Ngoài ra, giáo viên nên coi trọng tính vững chắc của kiến thức, kĩ năng hơn là chạy theo mục tiêu đề cao, mở rộng kiến thức [17]. Tác giả Outhay Bananvong nghiên cứu “Thực trạng đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở một số trường trung học cơ sở thủ đô Viêng chăn nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào” [21], nghiên cứu thực trạng đổi mới dạy học môn Toán ở Viêng chăn – Lào.