Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Bình Phước hiện là địa bàn tập trung cộng đồng người S'tiêng đông nhất cả nước với gần 100.000 người, chiếm khoảng 95% tổng số dân tộc S'tiêng tại Việt Nam. Với diện tích tự nhiên 6.871,5 km2 cùng 260,43 km đường biên giới giáp Vương quốc Campuchia, vùng đất này là không gian hội tụ của một kho tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng đặc sắc như lễ hội cúng lúa mới, lễ hội đâm trâu, nghệ thuật cồng chiêng, nghề dệt thổ cẩm và kiến trúc nhà dài truyền thống. Tuy nhiên, trước tác động sâu rộng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xu thế đô thị hóa, nhiều giá trị văn hóa độc đáo của người S'tiêng đang đứng trước nguy cơ mai một và thất lạc nhanh chóng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực tế công tác quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc tại địa phương còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn, từ sự thiếu đồng bộ trong cơ chế phối hợp đến tình trạng thiếu hụt ngân sách tu bổ và thương mại hóa di sản tự phát. Mục tiêu của luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công là làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá khách quan thực trạng quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa dân tộc S'tiêng trên địa bàn 8 huyện và 3 thị xã của tỉnh Bình Phước từ năm 2010 đến năm 2020. Từ đó, tác giả xây dựng hệ thống 5 nhóm giải pháp mang tính chiến lược và khả thi cao. Ý nghĩa thực tiễn của công trình được định vị rõ nét qua việc đề xuất chính sách bảo tồn gắn với sinh kế, hỗ trợ giảm tỷ lệ hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số xuống dưới mức 3% và tối ưu hóa hiệu quả đầu tư công tại các khu di tích lịch sử trọng điểm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu tích hợp lý thuyết quản lý công hiện đại cùng lý thuyết văn hóa học và nhân học tộc người nhằm xây dựng khung phân tích khoa học toàn diện. Quản lý nhà nước về di sản được tiếp cận dưới góc độ sử dụng quyền lực công, hệ thống pháp luật và chính sách công để điều chỉnh hành vi của các chủ thể xã hội. Khung pháp lý nền tảng bao gồm Luật Di sản văn hóa năm 2001 gồm 7 chương, 74 điều (được sửa đổi, bổ sung năm 2009), Nghị định số 98/2010/NĐ-CP của Chính phủ, Quyết định số 581/2009/QĐ-TTg về Chiến lược phát triển văn hóa và Quyết định số 1270/2011/QĐ-TTg phê duyệt Đề án bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam.

Về mặt học thuật, luận văn vận dụng định nghĩa văn hóa học của Giáo sư Trần Ngọc Thêm, xác định văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo qua thực tiễn tương tác với môi trường, kết hợp quan điểm nhân học của J.Stalin về 4 yếu tố cấu thành tộc người gồm ngôn ngữ, lịch sử, văn hóa và tâm lý. Các khái niệm trung tâm được chuẩn hóa gồm: di sản văn hóa vật thể, di sản văn hóa phi vật thể, bảo tồn thích ứng và phát huy giá trị di sản. Khung nghiên cứu khẳng định mối quan hệ biện chứng hai chiều: bảo tồn nguyên trạng là điều kiện tiên quyết để phát huy giá trị, trong khi việc đưa di sản hòa vào dòng chảy đời sống đương đại là phương thức căn bản để bảo tồn bền vững.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực chứng trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2020. Dữ liệu thứ cấp được khai thác từ Niên giám thống kê tỉnh Bình Phước năm 2016 với quy mô dân số 956.449 người, Báo cáo tổng kết 20 năm thực hiện chính sách dân tộc giai đoạn 1997-2017 trên 43.721 hộ đồng bào dân tộc thiểu số và các văn bản chỉ đạo của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Phước.

Đối với dữ liệu sơ cấp, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích nhằm thu thập ý kiến từ 120 cán bộ chuyên trách công tác văn hóa thuộc 3 cấp hành chính (tỉnh, huyện và 15 xã biên giới), đồng thời thực hiện phỏng vấn sâu 50 nghệ nhân, già làng người S'tiêng tiêu biểu. Các phương pháp xử lý thông tin bao gồm thống kê mô tả, phân tích tổng hợp định tính và đối chiếu so sánh liên ngành. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này giúp đối chiếu chính xác giữa các quy phạm pháp luật với thực tiễn cơ sở, bảo đảm phát hiện đúng các khoảng trống chính sách và nâng cao độ tin cậy khoa học của đề tài.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mật độ cư trú và đặc điểm địa bàn tạo áp lực lớn cho mạng lưới quản lý cơ sở. Gần 100.000 người S'tiêng (chiếm 95% tổng số người S'tiêng cả nước) phân bố không đồng đều, tập trung phần lớn tại vùng sâu, vùng xa thuộc các huyện Bù Đăng với 53.266 nhân khẩu dân tộc thiểu số, huyện Bù Gia Mập với 35.747 người và huyện Lộc Ninh với 21.652 người. Hạ tầng giao thông kết nối liên xã còn khó khăn khiến các chương trình bảo tồn văn hóa khó bao phủ toàn diện 100% thôn, sóc.

Thứ hai, sự chuyển dịch cơ cấu tôn giáo tác động mạnh mẽ đến nếp sống văn hóa truyền thống. Toàn tỉnh ghi nhận 90.740 tín đồ tôn giáo là người dân tộc thiểu số, chiếm 58,77% tổng dân số các dân tộc thiểu số. Trong đó, đạo Tin Lành chiếm tỷ lệ áp đảo với 59,83% tổng số tín đồ thiểu số, tiếp theo là Phật giáo chiếm 24,1% và Công giáo chiếm 14,3%. Sự thay đổi sinh hoạt tâm linh khiến hơn 60% các lễ hội cổ truyền liên quan đến tín ngưỡng đa thần nguyên thủy như lễ mừng lúa mới hay lễ đâm trâu bị giản lược hoặc biến đổi hình thức.

Thứ ba, sự thiếu tương thích văn hóa trong các dự án đầu tư bảo tồn công. Cụ thể tại Khu bảo tồn văn hóa dân tộc S'tiêng sóc Bom Bo, dự án xây dựng khu nhà ở định cư kiên cố đã hoàn thành nhưng 100% hộ dân S'tiêng không đến sinh sống. Nguyên nhân trực tiếp là do nhà ở được xây theo kiểu nhà trệt bê tông, hoàn toàn trái ngược với thói quen ở nhà sàn thoáng đãng, đồng thời không bố trí diện tích đất vườn để đồng bào canh tác và chăn nuôi.

Thứ tư, nguồn lực tài chính và năng lực nhân sự còn nhiều hạn chế. Ngân sách phân bổ cho sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa hàng năm ở cấp huyện chỉ chiếm dưới 2% tổng chi thường xuyên. Tỷ lệ cán bộ quản lý văn hóa cấp xã có trình độ chuyên môn sâu về dân tộc học hoặc biết sử dụng thành thạo tiếng nói S'tiêng đạt chưa tới 30%.

Thảo luận kết quả

Những phát hiện trên chỉ ra rằng nguyên nhân sâu xa của các hạn chế bắt nguồn từ phương thức quản lý hành chính áp đặt một chiều từ trên xuống, thiếu sự tham vấn cộng đồng bản địa – những chủ thể sáng tạo và gìn giữ di sản. Đối với người S'tiêng, nhu cầu ăn gắn liền mật thiết với ở; khi quy hoạch khu bảo tồn sóc Bom Bo chỉ giải quyết chỗ ở mà bỏ quên bài toán tạo sinh kế, dự án tất yếu bị lãng phí.

So sánh với các nghiên cứu tương tự tại khu vực Tây Nguyên, thực trạng tại Bình Phước cũng cho thấy nguy cơ thương mại hóa du lịch làm méo mó các giá trị văn hóa nguyên bản. Dữ liệu nghiên cứu được lượng hóa rõ qua Bảng tương quan phân bố dân cư dân tộc thiểu số tại 8 huyện thị và Biểu đồ cơ cấu tôn giáo. Các bảng số liệu này chỉ ra rằng tại các địa phương có tỷ lệ đô thị hóa và chuyển đổi tôn giáo trên 50%, nghệ thuật diễn xướng cồng chiêng và kỹ thuật dệt thổ cẩm truyền thống bị suy giảm tới hơn 40%. Điều này khẳng định quản lý nhà nước về di sản phải lấy người dân làm trung tâm, gắn bảo tồn bản sắc với quyền lợi kinh tế thiết thân của đồng bào.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, gắn chặt công tác bảo tồn di sản văn hóa dân tộc S'tiêng với phát triển kinh tế và bảo đảm sinh kế bền vững. Tỉnh Bình Phước cần khẩn trương tái quy hoạch cụm nhà ở tại Khu bảo tồn văn hóa sóc Bom Bo theo mô hình nhà vườn sinh thái. Triển khai trọn gói quy trình hỗ trợ 5 khâu cho đồng bào: tổ chức tập huấn kỹ thuật sản xuất nông nghiệp mới, hỗ trợ 100% kinh phí làm chuồng trại, cấp phát cây con giống chất lượng, hỗ trợ thuốc phòng trừ dịch bệnh và ký hợp đồng bao tiêu toàn bộ nông sản, phấn đấu tăng 40% thu nhập bình quân cho người dân trước năm 2025.

Hai là, đẩy mạnh xã hội hóa và huy động đa dạng nguồn lực tài chính cho bảo tồn di sản. Ủy ban nhân dân tỉnh cần ban hành các chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào du lịch văn hóa di sản, đặt mục tiêu thu hút từ 30% đến 40% nguồn vốn ngoài ngân sách trong giai đoạn 2021-2025 để nâng cấp các điểm đến trọng điểm như sóc Bom Bo, Khu di tích quốc gia đặc biệt Căn cứ Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam và Khu du lịch tâm linh núi Bà Rá.

Ba là, đổi mới phương thức quản lý và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với các cơ sở đào tạo tổ chức bồi dưỡng kiến thức văn hóa tộc người định kỳ cho 100% cán bộ văn hóa cấp huyện và cấp xã, bảo đảm tối thiểu 80% công chức cơ sở tại vùng đồng bào nắm vững phong tục và sử dụng được tiếng S'tiêng vào năm 2024.

Bốn là, thành lập Trung tâm bảo tồn di sản văn hóa dân tộc S'tiêng cấp vùng tại Bình Phước nhằm kết nối không gian văn hóa S'tiêng trên toàn vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, đồng thời hoàn thiện hồ sơ kiến nghị cấp có thẩm quyền đổi tên hành chính xã Bình Minh thành xã Bom Bo để lưu giữ giá trị lịch sử thiêng liêng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan hoạch định chính sách dân tộc: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ban Dân tộc tỉnh Bình Phước cùng các tỉnh lân cận có thể sử dụng các kết quả khảo sát thực chứng và 5 nhóm giải pháp của luận văn để xây dựng kế hoạch hành động, phân bổ ngân sách giai đoạn 2021-2030.

Thứ hai, các nhà khoa học, giảng viên và học viên sau đại học: Những cá nhân nghiên cứu chuyên ngành Quản lý công, Văn hóa học, Dân tộc học và Xã hội học sẽ tìm thấy khung phân tích lý luận mẫu mực, phương pháp chọn mẫu phân tầng khoa học cùng danh mục 43 tài liệu tham khảo giá trị.

Thứ ba, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch và lữ hành: Các đơn vị phát triển du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng có thể ứng dụng mô hình kết hợp trải nghiệm ẩm thực, dệt thổ cẩm và không gian cồng chiêng sóc Bom Bo vào thiết kế tour du lịch có trách nhiệm.

Thứ tư, chính quyền cơ sở và ban quản lý di tích tại 15 xã biên giới: Đội ngũ công chức cấp xã có thể áp dụng trực tiếp quy trình hỗ trợ sinh kế 5 khâu và phương pháp phát huy vai trò của già làng, nghệ nhân trong việc truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể cho thế hệ trẻ.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tỉnh Bình Phước giữ vị trí trọng tâm hàng đầu trong công tác bảo tồn di sản văn hóa S'tiêng? Bình Phước là nơi sinh sống của gần 100.000 người S'tiêng, chiếm khoảng 95% tổng số dân tộc S'tiêng trên toàn quốc. Đây là cái nôi gìn giữ kho tàng di sản phong phú nhất với các địa danh lịch sử nổi tiếng như sóc Bom Bo, tạo điều kiện thuận lợi nhất để nghiên cứu và triển khai chính sách quản lý nhà nước.

Vì sao khu nhà ở xây mới tại Khu bảo tồn sóc Bom Bo chưa thu hút được đồng bào đến ở? Dự án chưa thành công do xây dựng nhà trệt bê tông không phù hợp với tập quán cư trú nhà sàn truyền thống. Bên cạnh đó, công trình mới chỉ giải quyết khâu chỗ ở đơn thuần mà chưa quy hoạch diện tích đất sản xuất, chăn nuôi để bảo đảm nguồn sống lâu dài cho người dân.

Quản lý nhà nước cần làm gì để giải quyết mâu thuẫn giữa phát triển du lịch và bảo vệ di sản nguyên bản? Cơ quan quản lý cần thực thi nghiêm Luật Di sản văn hóa năm 2001, xác định rõ ranh giới các khu vực bảo vệ, kiểm soát ngưỡng chịu tải du lịch và trích lại từ 15% đến 20% nguồn thu dịch vụ du lịch để tái đầu tư cho hoạt động trùng tu, phục dựng di sản văn hóa bản địa.

Sự biến đổi tôn giáo tác động như thế nào đến việc gìn giữ di sản phi vật thể của người S'tiêng? Với 58,77% người dân tộc thiểu số theo tôn giáo, trong đó đạo Tin Lành chiếm 59,83% số tín đồ, nhiều nghi lễ nông nghiệp và diễn xướng cồng chiêng gắn với tín ngưỡng đa thần có xu hướng giảm sút. Quản lý nhà nước cần định hướng bảo tồn các giá trị nghệ thuật dân gian độc lập với yếu tố tôn giáo.

Giải pháp then chốt nào giúp nâng cao tính khả thi của công tác bảo tồn văn hóa S'tiêng trong thời gian tới? Giải pháp then chốt là thành lập Trung tâm bảo tồn di sản văn hóa dân tộc S'tiêng cấp vùng tại Bình Phước và chuyển đổi khu nhà ở sóc Bom Bo sang mô hình nhà vườn sinh thái gắn với quy trình 5 khâu hỗ trợ kỹ thuật, vốn và bao tiêu nông sản cho người dân.

Kết luận

Công trình nghiên cứu quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc S'tiêng trên địa bàn tỉnh Bình Phước mang lại những đóng góp khoa học quan trọng:

  • Hệ thống hóa khung lý luận quản lý công về di sản văn hóa tộc người thiểu số dựa trên nguyên tắc pháp chế và quyền văn hóa.
  • Phân tích bức tranh thực trạng toàn diện của cộng đồng gần 100.000 người S'tiêng trên địa bàn 8 huyện và 3 thị xã.
  • Chỉ rõ điểm nghẽn cốt lõi trong các dự án bảo tồn thiếu gắn kết với tư liệu sản xuất và sinh kế của người dân.
  • Xây dựng hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp hài hòa giữa bảo tồn di sản, xã hội hóa đầu tư và phát triển du lịch bền vững.
  • Đề xuất sáng kiến thành lập Trung tâm bảo tồn di sản cấp vùng và đổi tên địa danh hành chính xã Bình Minh thành xã Bom Bo.

Luận văn khẳng định việc bảo tồn di sản chỉ đạt hiệu quả thực chất khi người dân bản địa trở thành chủ thể trực tiếp tham gia và thụ hưởng lợi ích kinh tế. Trong lộ trình giai đoạn 2021-2030, các cấp chính quyền tỉnh Bình Phước cùng các cơ quan nghiên cứu cần khẩn trương thể chế hóa các giải pháp nêu trên vào quy hoạch phát triển kinh tế xã hội địa phương, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.