phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về hoạt động kiểm tra sau thông quan. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang. Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN 1.
Cơ sở lý luận về hoạt động kiểm tra sau thông quan 1. h i niệm đ c điểm c a hoạt động kiểm tra sau thông quan 1. Khái niệm kiểm tra sau thông quan Trên thế giới hiện nay tồn tại một số quan niệm về kiểm tra sau thông quan nhƣ sau: - Theo Tổ chức Hải quan thế giới: “Kiểm tra sau thông quan là quy trình công tác cho ph p viên chức Hải quan kiểm tra tính chính xác của hoạt động khai hải quan bằng việc kiểm tra các hồ sơ, tài liệu ghi ch p về kế toán và thƣơng mại liên quan đến hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa và tất cả các số liệu, thông tin, bằng chứng khác cho cơ quan Hải quan mà hiện tại đang đƣợc các đối tƣợng kiểm tra (cá nhân hoặc doanh nghiệp) trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào hoạt động buôn bán quốc tế nắm giữ”. - Theo Công ƣớc Kyoto sửa đổi, bổ sung tháng 9/1999: “Kiểm tra trên cơ sở kiểm toán là các biện pháp đƣợc cơ quan Hải quan tiến hành nhằm thoả mãn mục đích của họ trong việc xác định tính chính xác và trung thực của các tờ khai hàng hóa thông qua kiểm tra các chứng từ, biên bản, hệ thống kinh tế và dữ liệu thƣơng mại của các bên liên quan” (Phụ lục tổng quát, Chƣơng 2, định nghĩa E3/F4).
- Theo Hải quan ASEAN: “Kiểm tra sau thông quan là một biện pháp kiểm soát Hải quan có hệ thống mà cơ quan Hải quan thấy thỏa đáng về độ chính xác và trung thực của việc khai báo hải quan thông qua việc kiểm tra sổ sách, hồ sơ có liên quan, hệ thống kinh doanh và dữ liệu thƣơng mại của các cá nhân/các công ty tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào thƣơng mại quốc tế” (Sổ 8 tay hƣớng dẫn kiểm tra sau thông quan - Tổ chức Hải quan ASEAN). - Theo Hải quan Việt Nam: Kiểm tra sau thông quan là hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan đối với hồ sơ hải quan, sổ kế toán, chứng từ kế toán và các chứng từ khác, tài liệu, dữ liệu có liên quan đến hàng hóa; kiểm tra thực tế hàng hóa trong trƣờng hợp cần thiết và còn điều kiện sau khi hàng hóa đã đƣợc thông quan. Việc kiểm tra sau thông quan nhằm đánh giá tính chính xác, trung thực nội dung các chứng từ, hồ sơ mà ngƣời khai hải quan đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan hải quan; đánh giá việc tuân thủ pháp luật hải quan và các quy định khác của pháp luật liên quan đến quản lý xuất khẩu, nhập khẩu của ngƣời khai hải quan. Đ c điểm hoạt động kiểm tra sau thông quan Quan niệm về kiểm tra sau thông quan của mỗi nƣớc tuy đƣợc nêu theo nhiều cánh diễn đạt khác nhau, nhƣng vẫn bao hàm 7 đặc điểm cơ bản sau: ấ kiểm tra sau thông quan cùng thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nƣớc về mặt Hải quan với các đơn vị chức năng khác của Hải quan, ví dụ, đơn vị thông quan, đơn vị kiểm soát và các đơn vị khác.
Kiểm tra sau thông quan không phải là một hệ thống độc lập mà là một chức năng của tổ chức Hải quan. i, kiểm tra sau thông quan là một phƣơng pháp kiểm tra của các cán bộ Hải quan. Ở cấp độ pháp lý thích hợp, cần đƣa ra các quy định cần thiết để thực hiện kiểm tra sau thông quan, bao gồm cả thẩm quyền của cán bộ, thủ tục, hình phạt. để đảm bảo thực thi kiểm tra sau thông quan có hiệu quả.
Cần lƣu ý rằng, kiểm tra sau thông quan không phải là một biện pháp điều tra vi phạm của cơ quan Hải quan, thậm chí ngay cả khi Luật Hải quan cho ph p các cán bộ Hải quan vào các cơ sở của cá nhân, công ty để kiểm tra hồ sơ của họ và tiến hành xử phạt những ai chống đối hoặc ngăn cản công tác kiểm tra. Thông qua quy trình kiểm tra sau thông quan, các cán bộ Hải quan tiếp cận, hợp tác với 9 các cá nhân đang bị kiểm tra (ngƣời bị kiểm tra) và tiến hành kiểm tra sau thông quan với sự hợp tác và đồng ý của họ. kiểm tra sau thông quan là phƣơng pháp kiểm tra, diễn ra sau khi giải phóng hàng. Kiểm tra sau thông quan sẽ đạt đƣợc hiệu quả đáng kể khi đƣợc thực hiện đối với những cá nhân, công ty tiến hành khai báo Hải quan liên tục trong một thời gian nhất định, dựa trên cơ sở phân tích trƣớc hồ sơ lƣu trữ của họ.
Mặt khác, phƣơng pháp này sẽ không có hiệu quả nếu đƣợc áp dụng cho những đối tƣợng tiến hành nhập khẩu, xuất khẩu số lƣợng nhỏ hàng hóa hoặc có số thuế phải nộp thấp. Cuối cùng, phƣơng pháp này khó áp dụng cho những đối tƣợng giải thể hoặc không còn tồn tại sau giải phóng hàng. kiểm tra sau thông quan đƣợc tiến hành để xác định xem các nội dung khai Hải quan có tuân thủ các yêu cầu của pháp luật Hải quan và các quy định khác có liên quan hay không. Đây là đối tƣợng chính của kiểm tra sau thông quan, đòi hỏi các cán bộ Hải quan phải tinh thông về nghiệp vụ Hải quan và nghiệp vụ xuất nhập khẩu.
Ngoài ra, cơ quan Hải quan cần tiến hành các biện pháp toàn diện nhằm khuyến khích các nhà nhập khẩu, xuất khẩu hoặc bất kỳ đối tƣợng khai Hải quan nào tuân thủ các quy định pháp luật Hải quan thông qua phần tự khai báo. ă kiểm tra sau thông quan thực hiện các biện pháp kiểm tra theo tất cả các thông tin liên quan, bao gồm cả dữ liệu điện tử, do các cá nhân, công ty có liên quan cung cấp nhằm thực hiện mục tiêu trên. Cán bộ kiểm tra sau thông quan tập hợp các bằng chứng thu thập từ các nguồn thông tin, đánh giá chúng trên cơ sở quy định pháp luật Hải quan và sau đó xác định xem nội dung khai báo có đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nƣớc về Hải quan hay không. kiểm tra sau thông quan không chỉ hƣớng vào đối tƣợng khai báo mà cả các cá nhân, công ty khác liên quan đến thƣơng mại quốc tế.
ả kiểm tra sau thông quan đƣợc thực hiện với sự cộng tác chặt chẽ 10 giữa cơ quan Hải quan và đối tƣợng kiểm tra. Không giống nhƣ các công tác nghiệp vụ quen thuộc trƣớc, kiểm tra sau thông quan là khâu nghiệp vụ mới, nên các công chức Hải quan làm lĩnh vực này phải phát huy cao độ tính năng động của mình để có thể tiếp cận và sàng lọc các nguồn thông tin khác nhau, nhằm phát hiện ra các hành vi, hiện tƣợng, dấu hiệu nghi vấn. Từ những chi tiết bất thƣờng thể hiện trên hồ sơ khai báo, sự biến động giá cả hàng hóa trên thị trƣờng cho đến những dấu hiệu xuất, nhập hàng hóa không ổn định, ngƣời cán bộ kiểm tra sau thông quan đều phải lƣu ý tới. Nhƣ vậy, các nƣớc đều coi kiểm tra sau thông quan là một nghiệp vụ của cơ quan Hải quan.
Nó không phải là một hoạt động riêng rẽ, độc lập, mà là hoạt động nghiệp vụ bình thƣờng, gắn kết trong tổng thể mối quan hệ của toàn bộ hoạt động kiểm tra giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Vai tr của hoạt động kiểm tra sau thông quan Kiểm tra sau thông quan của các nƣớc không giống nhau về tên gọi, cơ cấu tổ chức, môi trƣờng pháp lý, đào tạo cán bộ nghiệp vụ. nhƣng lại hoàn toàn giống nhau về chức năng cơ bản đó là phát hiện và ngăn chặn gian lận thƣơng mại trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu thông qua việc thực hiện các cuộc kiểm tra sau thông quan. Thông thƣờng theo tâm lý kinh doanh khi làm thủ tục thông quan, chủ hàng luôn có ý định tìm mọi cách “làm sạch chứng từ” khai báo sai bản chất, chủng loại, số lƣợng, trị giá hàng hóa.
theo hƣớng sao cho phải nộp các loại thuế cho hải quan càng ít càng tốt. Nhƣng đến khi bán hàng và nhất là khi hạch toán lỗ lãi, chủ hàng buộc phải tính đúng, tính đủ, thậm chí tính chi phí đầu vào cao hơn thực tế để rút ngắn khoảng cách giữa giá mua và giá bán sao cho phải nộp các sắc thuế nội địa càng ít càng tốt. Những vấn đề cần đƣợc nêu ra ở đây là: 11 1. Những chứng từ đƣợc cập nhật và sổ kế toán có phải là những chứng từ mà trƣớc đó chủ hàng đã xuất trình, khai báo với cơ quan Hải quan khi làm thủ tục thông quan hay không 2.
Số lƣợng hàng hóa ghi trong cột nhập kho hoặc tập hợp từ các phiếu xuất kho có nhất quán với các dữ liệu đã đƣợc khai báo trên mục số lƣợng hàng hóa của các tờ khai hải quan hay không 3. Chủng loại hàng hóa chủ hàng đã khai báo trên tờ khai hải quan để áp thuế suất có nhất quán với các chứng từ có liên quan khác hay không? 4. Các khoản chi phí mà chủ hàng thực tế đã trả hoặc sẽ phải trả cho ngƣời bán (ngƣời xuất khẩu), các hãng vận tải, bảo hiểm. có nhất quán với mục trị giá hải quan mà trƣớc đó chủ hàng đã khai báo với hải quan không 5.
Số thuế mà chủ hàng đã nộp là đủ hay thiếu, nếu thiếu thì thiếu bao nhiêu? Nguyên nhân thiếu thuế là do chủ hàng gian lận hay do nhân viên hải quan nhầm lẫn Ngƣời duy nhất có chức năng và khả năng trả lời các câu hỏi này là kiểm tra sau thông quan. X t về mặt bản chất thì kiểm tra sau thông quan là một công cụ mà thông qua việc sử dụng công cụ đó ngành Hải quan đã nâng cao vị thế công tác và hiệu lực kiểm tra kiểm soát của mình. Nếu trƣớc đây phạm vi kiểm tra kiểm soát của ngành hải quan chỉ giới hạn trong các cửa khẩu, kho ngoại quan. thì với kiểm tra sau thông quan, phạm vi kiểm tra đã mở rộng ra đến doanh nghiệp và các bên có liên quan nhƣ: ngƣời tiêu dùng mua hàng nhập khẩu trên thị trƣờng nội địa, cơ quan thuế, ngân hàng.