chương 1, tác giả xác định và trình bày trong chương này những lý thuyết học thuật có liên quan để giải thích sâu hơn vấn đề cần nghiên cứu. Khái niệm Theo Eldrige và Crombie (1974), VHTC là các tiêu chuẩn, giá trị, tín ngưỡng, cách đối xử,. thể hiện thông qua việc các thành viên trong tổ chức liên kết với nhau để hoàn thành công việc được giao. Theo Louis (1980), VHTC là một hệ thống các quan niệm chung được các thành viên trong tổ chức hiểu ngầm với nhau, chỉ thích hợp cho tổ chức riêng của họ và các quan điểm này được truyền cho các thành viên mới.
Theo Tunstall (1983), VHTC là tập hợp các hệ thống giá trị, tín ngưỡng, thông lệ, quy chuẩn hành vi ứng xử và cách thức hoạt động riêng của từng tổ ĐH BÀ RỊA VŨNG TÀU chức. Từ đó, quy định cách thức hoạt động của tổ chức và cách ứng xử giữa các thành viên trong tổ chức đó. Theo Robbin (2003), VHTC là một hệ thống ý nghĩa chung hàm giữ bởi các thành viên trong tổ chức, qua đó có thể phân biệt tổ chức này với tổ chức khác. Các khái niệm về VHTC nêu trên có điểm chung là đều nhấn mạnh vào những phương tiện mang tính biểu đạt mà thông qua đó những giá trị trong văn hóa tổ chức được truyền bá tới các thành viên trong tổ chức, chi phối suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên trong tổ chức, tạo nên sự khác biệt giữa các tổ chức.
Theo quan điểm của tác giả, VHTC là một hệ thống các giá trị, chuẩn mực, quan niệm và hành vi ứng xử được chia sẻ và thực hiện bởi các thành viên trong một tổ chức, thích ứng với sự vận động, biến đổi và tạo nên nét đặc thù riêng của tổ chức. Vai trò Yếu tố VHTC là một yếu tố bên trong rất quan trọng, nó được thiết lập nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi cho việc thực hiện sứ mạng, mục tiêu và chiến lược 14 dài hạn của tổ chức. Bao gồm những giá trị, niềm tin, những chuẩn mực, quy định, nguyên tắc, khuôn mẫu có tác dụng định hướng các kết quả và hành vi các thành viên trong tổ chức. VHTC đóng một vai trò quan trọng trong quá trình ra quyết định của các cá nhân và là một yếu tố quan trọng trong sự thành công của các chiến lược nghề nghiệp của tổ chức bằng cách ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý trong việc đạt được các mục tiêu cần tìm (Abdullatif và Judah, 2010).
Ở góc độ quản lý, VHTC hướng dẫn, điều chỉnh nhận thức và hành vi của các thành viên trong tổ chức, liên kết các phòng chức năng trong tổ chức, tạo sự gắn kết, ràng buộc các thành viên với tổ chức. VHTC là chất keo gắn kết giữacác thành viên trong một tổ chức, tạo nên sự thống nhất về cách hiểu vấn đề, đánh giá, lựa chọn và định hướng hành động của các thành viên. VHTC có chất lượng độc đáo trở thành một nguồn lực quan trọng của tổ chức phân biệt nó với các tổ chức khác (Al-Khashali và Al-Rawashda, 2010). ĐH BÀ RỊA VŨNG TÀU VHTC đóng vai trò trong việc tạo nên sự khác biệt giữa các tổ chức, là tài sản riêng của mỗi tổ chức và là công cụ quản lý mang lại lợithế cạnh tranh cho tổ chức.
Ngoài ra, VHTC có vai trò quan trọng trong việc xây dựng hoặc hình thành tính cách của các cá nhân và khả năng ảnh hưởng đến hành vi của họ và hành vi chung của tổ chức. Nó cũng có thể là chất xúc tác cho sự sáng tạo và ý tưởng tái tạo, dẫn đến việc tạo ra hiệu suất hiệu quả và hiệu quả, đạt được các mục tiêu đặt ra, sự ổn định và tăng trưởng của tổ chức (Jameel, 2015). Cấu trúc của VHTC Theo Edgar H. Schein chia VHTC bao gồm ba cấp độ: - Những quá trình và cấu trúc hữu hình (Artifacts) là những cái có thể nhìn thấy, dễ cảm nhận bao gồm các hiện tượng và sự vật mà một người có thể nghe, nhìn và cảm thấy khi tiếp xúc với một tổ chức.
Cấp độ văn hóa này là những biểu hiện bên ngoài của VHTC như: Kiến trúc,cách bài trí DN; Các văn bản quy định nguyên tắc hoạt động của DN; các hoạt động tổ chức lễ hội; Cơ cấu tổ chức, các phòng ban của DN; Các khẩu hiệu , logo , tài liệu quảng cáo của DN; Trang phục, 15 xe cộ, hành vi ứng xử và giao tiếp của các thành viên trong DN; Những câu chuyện, huyền thoại về tổ chức; Hình thức, mẫu mã của sản phẩm;… - Hệ thống giá trị được tuyên bố (Espoused values) bao gồm các giá trị cốt lõi, bộ quy tắc, quy định, chiến lược và mục tiêu riêng. Đây chính là kim chỉ nam cho hoạt động của toàn bộ tổ chức. Các nội dung này sẽ được công bố rộng rãi và được tuyên bố, chấp nhận của văn hóa tổ chức. - Những quan niệm chung (Basic underlying assumption) là những niềm tin, nhận thức, suy nghĩ và tình cảm có tính vô thức, được công nhận trong DN.
VHTC ăn sâu vào suy nghĩ của hầu hết các thành viên trong nền văn hoá đó và trở thành thói quen chi phối suy nghĩ, hành động, góc nhìn, tạo nền mạch ngầm kết dính các thành viên trong tổ chức. Ba cấp độ của VHTC tạo thành các lớp văn hóa khác nhau. Lớp ngoài khá dễ thích nghi và dễ thay đổi. Lớp càng sâu, càng khó điều chỉnh nó.
Tuy nhiên chúng luôn hòa quyện và tương thích, hỗ trợ nhau để cùng hướng tới việc thể hiện đặc ĐH BÀ RỊA VŨNG TÀU trưng riêng của tổ chức đó. Chất lượng thông tin báo cáo tài chính 2. Khái niệm thông tin BCTC BCTC là hệ thống thông tin được xử lý bởi hệ thống kế toán tài chính, là nguồn thông tin chủ yếu và quan trọng cung cấp cho quản trị tài chính, phục vụ các loại quyết định cho những các bên hữu quan bao gồm: Nhà quản trị, chủ DN, nhà đầu tư, chủ nợ, cơ quan thuế và các cơ quan chức năng…. Thông tin trên BCTC bao gồm tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu và nợ phải trả cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, sự luân chuyển của các dòng tiền ra và vào trong kỳ của DN.
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế, một hệ thống BCTC bao gồm: Báo cáo tình hình tài chính; Báo cáo lãi lỗ và thu nhập tổng hợp khác; Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu; Báo cáo lưu chuyển tiền; Bản thuyết minh BCTC. Theo Viện kiểm toán viên công chứng Hoa kỳ (AICPA): "Hệ thống BCTC được lập nhằm mục đích phục vụ cho việc xem xét định kỳ hoặc báo cáo về quá trình hoạt động của nhà quản lý, về tình hình đầu tư trong kinh doanh và những 16 kết quả đạt được trong kỳ báo cáo. Hệ thống BCTC phản ánh sự kết hợp của những sự kiện được ghi nhận, những nguyên tắc kế toán và những đánh giá của cá nhân, mà trong đó những đánh giá và nguyên tắc kế toán được áp dụng có ảnh hưởng chủ yếu đến việc ghi nhận các sự kiện. Những đánh giá đúng đắn tùy thuộc vào khả năng và sự trung thực của người lập báo cáo, đồng thời phụ thuộc vào sự tuân thủ đối với những nguyên tắc kế toán đã được chấp nhận rộng rãi".
Ngày nay, thông tin BCTC được hiểu bao gồm cả thông tin tài chính và thông tin phi tài chính cũng như các công bố bắt buộc và tự nguyện như trong BCTC thường niên của DN nhằm hướng đến sự hữu ích của thông tin. Healy và Palepu (2001) cho rằng để đảm bảo cho thị trường vốn hoạt động hiệu quả, DN ngoài việc cung cấp BCTC truyền thốngtheo quy định luật pháp cần phải bổ sung những báo cáo về những phân tích đánh giá, các dự báo của nhà quản lý. Chất lượng thông tin BCTC Các thuộc tính chất lượng thông tin BCTC do FASB & IASB ban hành mang ĐH BÀ RỊA VŨNG TÀU tính hội tụ cao và được nhiều nghiên cứu trước đó tham chiếu. Do đó, tác giả trình bày các khái niệm có liên quan đến các thuộc tính chất lượng thông tin BCTC theo Khuôn mẫu lý thuyết do FASB & IASB ban hành vào năm 2018.
Khuôn mẫu nêu rõ hai đặc tính chất lượng nền tảng của thông tin trên BCTC là thích hợp và trình bày trung và bốn thuộc tính làm gia tăng chất lượng thông tin BCTC là có khả năng so sánh, có thể kiểm chứng, kịp thời và có thể hiểu được. Các đặc tính chất lượng cơ bản bao gồm: - Thích hợp (relevance): Là thông tin có tác động đến việc ra quyết định của người sử dụng thông tin trong khả năng với tư cách là nhà cung ứng vốn. Thông tin có khả năng tác động đến việc ra quyết định của nguời sử dụng khi nó mang Giá trị dự đoán (Predictive value), Giá trị xác nhận (Confirmatory value) hay cả hai. + Giá trị dự đoán: người sử dụng sử dụng thông tin như là một thông tin đầu vào khi dự đoán các kết quả tương lai.
+ Giá trị xác nhận: thông tin cung cấp những phản hồi về việc thừa nhận hoặc những sự thay đổi của các đánh giá trước đó. 17 - Trình bày trung thực (faithful representation): bao gồm Toàn vẹn, Trung lập, Không sai sót của thông tin. + Toàn vẹn (complete): nghĩa là toàn bộ các thông tin cần thiết kể cả mọi miêu tả và giải thích giúp người sử dụng hiểu được các hiện tượng. Đối với một số khoản mục, toàn vẹn còn bao hàm việc giải thích các mức ý nghĩa về bản chất của các khoản mục, các nhân tố và các hoàn cảnh có thể tác động đến chất lượng và bản chất đó cũng như quy trình được sửdụng để xác định các giá trị đó.
+ Trung lập (Neutral): được xem như là không chứa đựng những định kiến, điều chỉnh,nhấn mạnh, làm nhẹ hoặc là tìm mọi cách để chế biến thông tin làm gia tăng khả năng người sử dụng đón nhận thông tin với một cái nhìn tốt đẹp hoặc ngược lại. Tuy nhiên, Trung lập không có nghĩa là việc trình bày thông tin không có mục tiêu hoặc là không ảnh hướng đến hành vi. Bởi lẽ, đặc tính Thích hợp có nói rằng thông tin phải có ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng. + Không sai sót (Free from error): không sai sót có nghĩa là không có lỗi ĐH BÀ RỊA VŨNG TÀU hoặc là bỏ sót trong việc miêu tả sự kiện và qui trình được sử dụng để sản xuất thông tin.
Thí dụ như việc ước lượng về mặt giá trị không thể được xác định là chính xác hay không chính xác.