Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Những khái niệm cơ bản 1. Cán bộ Căn cứ theo quy định tại khoản 1, Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 có ghi: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [14]. Với quy định trên, thì xác định một người là cán bộ cần quan tâm đến các tiêu chí và yếu tố đó là: Công dân Việt Nam được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm trong biên chế; theo nhiệm kỳ; hưởng lương từ ngân sách nhà nước, theo vị trí, chức danh; nơi làm việc là cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội.
Công chức Hiện nay, khái niệm công chức được nhìn nhận ở nhiều khía cạnh khác nhau nên có nhiều cách hiểu khác nhau: Theo từ điến Tiếng Việt, “Công chức là người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước, hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [16, tr. Từ điển Tiếng Việt đã định nghĩa rất chung “Công chức là người làm việc trong cơ quan nhà nước”. Công chức có nghĩa vụ chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thừa hành công vụ của mình và có trách nhiệm liên quan đến việc thi hành công vụ của cấp dưới quyền Ở nước ta hiện nay căn cứ theo quy định tại khoản 1, Điều 1, Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức sửa đổi năm 2019 quy định về công chức theo đó: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức 8 vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan quan nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [10]. Luật Cán bộ, công chức được sửa đổi, bổ sung năm 2019, tại Khoản 1, Điều 34, “căn cứ vào ngạch công chức” đã sửa đổi thành “căn cứ vào lĩnh vực ngành, nghề, chuyên môn, nghiệp vụ” và CBCC được phân thành: + Công chức loại A: Người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp; + Công chức loại B: Người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính; + Công chức loại C: Người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên; + Công chức loại D: Người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương đương + Công chức loại E: Người được bổ nhiệm vào ngạch nhân viên.
+ Công chức ngạch khác [15]. Hiện nay, Chính phủ chưa có văn bản nào quy định chi tiết về “ngạch khác” vừa được bổ sung này mà mới chỉ có kế hoạch xây dựng các Nghị định hướng dẫn Luật sửa đổi tại Quyết định số 69/QĐ-BNV, ngày 21/01/2020 về ban hành kế hoạch xây dựng các nghị định quy định chi tiết luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật cán bộ, công chức và luật viên chức. Căn cứ vào vị trí công tác, công chức được phân loại thành: + Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; + Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. Do đó, căn cứ vào lĩnh vực ngành, nghề, chuyên môn, nghiệp vụ, công chức được phân loại thành ngạch công chức tương ứng với ngạch chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính, chuyên viên, cán sự, nhân viên và ngạch khác.
Luận văn thống nhất sử dụng khái niệm “Công chức là những người được Nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công việc thường xuyên, làm việc liên 9 tục trong cơ quan nhà nước, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. CBCC cấp xã Căn cứ theo quy định tại khoản 3, Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, UBND, Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [14]. Theo quy định tại khoản 2, Điều 61, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định cán bộ cấp xã có các chức vụ sau: a) Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ; b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; c) Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND; d) Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đ) Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; e) Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; g) Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); h) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam [14]. Theo quy định tại khoản 3, Điều 61, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định công chức cấp xã có các chức danh sau: a) Trưởng Công an; b) Chỉ huy trưởng Quân sự; c) Văn phòng - thống kê; d) Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); 10 đ) Tài chính - kế toán; e) Tư pháp - hộ tịch; g) Văn hóa - xã hội.
Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý [14]. Đào tạo Theo từ điển Tiếng Việt: “Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một số công việc nhất định” [16, tr. Theo “Đào tạo nguồn nhân lực” của Business Edge thì đào tạo là một quy trình có hoạch định và có tổ chức “nhằm tăng kết quả thực hiện công việc của nhân viên thông qua việc cung cấp cho họ kỹ năng và kiến thức mới”. Đào tạo theo định nghĩa chung nhất, là quá trình tác động đến con người làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bộ cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển năng lực bản thân, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người.
Đào tạo là sự phát triển có hệ thống những kiến thức, kỹ năng mà mỗi cá nhân cần có thể thực hiện đúng một ngành nghề hoặc một nhiệm vụ cụ thể. Sự cần thiết đó có thể do nhu cầu đào tạo cá nhân của người được đào tạo hoặc do nhu cầu phát triển của CBCC của tổ chức. Khi nói đến đào tạo là nói đến việc học làm một công việc như thế nào, nghĩa là nó liên quan đến việc học hay dạy những kỹ năng cần thiết cho một công việc nhất định nào đó. Trong đào tạo CBCC được trang bị những kiến thức, kỹ năng mới hay nhằm thay đổi dạng hoạt động nghề nghiệp hay phương thức hoạt động nghề nghiệp cho phù hợp với những thay đổi nghề nghiệp và sự phát triển của khoa học công nghệ.
Hiện nay, thuật ngữ đào tạo lại trong đào tạo công chức ít được dùng mà dùng từ đào tạo một cách chung nhất. Một cách cụ thể hơn, đào tạo được xem như là quá trình làm cho con người “trở thành người 11 có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”. Xét về mặt thời gian, đào tạo thường có thời gian dài hơn, thường là một năm học trở lên, về bằng cấp thì đào tạo có bằng cấp hoặc một chứng nhận trình độ được đào tạo. Đào tạo xác định như là một quá trình làm biến đổi hành vi con người một cách có hệ thống thông qua việc học tập, cung cấp cho người học những kiến thức, kỹ năng, thái độ mới phù hợp với yêu cầu đặt ra.
Việc học tập này có được kết quả của việc giáo dục, hướng dẫn, phát triển và lĩnh hội kinh nghiệm một cách có kế hoạch. Đào tạo chính là việc tổ chức những cơ hội cho người học tập, nhằm giúp tổ chức đạt được những mục tiêu của mình bằng việc tăng cường năng lực, làm gia tăng giá trị của nguồn lực cơ bản quan trọng nhất là con người, là CBCC làm việc trong tổ chức. Đào tạo tác động đến con người trong tổ chức, làm cho họ có thể làm tốt hơn, cho phép họ xử dụng tốt hơn các khả năng, tiềm năng vốn có của họ, phát huy hết năng lực làm việc của họ. Bồi dưỡng Bồi dưỡng là quá trình bổ sung kiến thức, kĩ năng, thái độ để nâng cao năng lực, trình độ, phẩm chất của người lao động về một lĩnh vực hoạt động mà người lao động đã có một trình độ năng lực chuyên môn nhất định qua một hình thức đào tạo nào đó, nhằm giúp người lao động củng cố, nâng cao hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, chuyên môn đã có sẵn, giúp cho công việc đang làm đạt hiệu quả tốt hơn [18, tr.
Như vậy, đến nay cả về mặt khoa học và pháp lý, đã có sự thống nhất cơ bản về các khái niệm “đào tạo” và “bồi dưỡng” là những khái niệm độc lập, trong thực tiễn vẫn còn một quan niệm mới là đào tạo, bồi dưỡng là thuật ngữ chung không thể tách rời. Đào tạo, bồi dưỡng thường đi đôi với nhau, thông qua đó CBCC tiếp nhận kiến thức, kỹ năng để thực thi công việc được giao một cách hiệu quả và chất lượng nhằm đáp ứng các yêu cầu phát triển của tổ chức gắn với công tác quy hoạch cán bộ Nhà nước. Tuy nhiên, trên thực tế CBCC được bồi dưỡng chuyên 12 môn, kiến thức công việc là chủ yếu, mặc dù đào tạo, bồi dưỡng thường đi đôi với nhau [18, tr.