CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TRÌNH HẠ TẦNG KỸ THUẬT VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 1. Tổng quan về công trình hạ tầng kỹ thuật 1. Công trình hạ tầng kỹ thuật Hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật gồm công trình giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước, thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn, nghĩa trang và công trình khác [7]; Công trình hạ tầng kỹ thuật là các công trình được xây dựng để phục vụ cộng đồng, có ý nghĩa xã hội hơn là kinh tế, nhằm nâng cao đời sống cộng đồng nơi đó, ví dụ như sau: • Hệ thống điện; • Hệ thống lọc và phân phối nước ăn; • Hệ thống xử lý nước thải; • Hệ thống xử lý rác thải; • Hệ thống phân phối khí đốt; • Giao thông công cộng; • Các hệ thống truyền thông, chẳng hạn truyền hình cáp và điện thoại; • Hệ thống đường sá, bao gồm cả đường thu phí; Các công trình này thường do các tập đoàn của chính phủ hoặc của tư nhân, thuộc sở hữu tư nhân hoặc sở hữu công (https://vi.org/wiki/Công trình hạ tầng kỹ thuật). Phân loại công trình hạ tầng kỹ thuật Theo Thông tư số 12/2012/TT-BXD ngày 28/12/2012 về việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia nguyên tắc phân loại, phân cấp công trình dân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật đô thị, công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị được phân loại như sau: • Hệ thống các công trình cấp nước đô thị 4 - Công trình khai thác nước thô: nước mặt, nước ngầm; - Trạm bơm; - Trạm xử lý nước cấp: các loại bể lắng, bể lọc, bể chứa, đài chứa nước; - Mạng lưới cấp nước: đường ống cấp nước.
• Hệ thống các công trình thoát nước đô thị - Mạng lưới đường ống (thu gom và vận chuyển): nước mưa, nước thải, nước bẩn; - Trạm bơm: thoát nước mưa, nước thải sinh hoạt; - Các loại giếng thăm, giếng chuyển bậc, giếng thu nước mưa; - Công trình xử lý nước thải (đô thị, khu vực hay cục bộ): bể lắng, bể lọc, hồ sinh học, bể tự hoại, công trình xử lý bùn; - Các công trình khác: hồ điều hòa, bể chứa nước thải, cống thoát nước, cửa xả nước thải đã xử lý ra nguồn tiếp nhận. • Hệ thống các công trình cấp điện đô thị - Trạm biến áp; - Mạng hạ áp (cung cấp điện cho các phụ tải): đường dây • Hệ thống các công trình chiếu sáng đô thị - Chiếu sáng giao thông đô thị: đường phố, nút giao thông, cầu, hầm trong đô thị; - Chiếu sáng không gian công cộng trong đô thị: quảng trường, vườn hoa, khu vực vui chơi công cộng, bãi đỗ công cộng, công trình thể thao ngoài trời; - Chiếu sáng trang trí, quảng cáo và các loại hình khác. • Hệ thống các công trình cấp xăng dầu và khí đốt đô thị - Trạm xăng dầu: nhà của trạm xăng, bể chứa, đường ống; - Trạm khí đốt đô thị: Trạm khí đốt dầu mỏ hóa lỏng (trạm LPG) và Trạm khí đốt thiên nhiên. 5 • Hệ thống các công trình thông tin đô thị - Tháp thu, phát sóng viễn thông, truyền thanh, truyền hình; - Nhà phục vụ thông tin liên lạc (bưu điện, bưu cục, nhà lắp đặt thiết bị thông tin, đài lưu không); - Trạm viba; - Trạm vệ tinh mặt đất; - Công trình thông tin liên lạc, viễn thông phục vụ trực tiếp các cơ quan Đảng, Chính phủ, Nhà nước; - Công trình thông tin liên lạc phục vụ công tác phòng chống thiên tai, cứu nạn, cứu hộ.
• Hệ thống thu gom, xử lý chất thải rắn - Trạm trung chuyển; - Công trình xử lý chất thải rắn: khu liên hợp xử lý , trạm xử lý chế biến thành phân vi sinh, bãi chôn lấp, lò đốt. • Nhà tang lễ và nghĩa trang đô thị - Nghĩa trang : quốc gia và nhân dân; - Nhà tang lễ; - Đài hóa thân hoàn vũ. • Hệ thống các công trình giao thông đô thị Đường đô thị - Đường cao tốc đô thị; - Đường trục chính đô thị, đường trục đô thị; - Đường liên khu vực, đường khu vực; - Đường phố nội bộ: đường đi bộ, đường xe đạp; 6 - Bãi đỗ xe : trên mặt đất, dưới mặt đất; - Bến xe; - Trạm thu phí, trạm sửa chữa. Đường sắt - Tàu điện ngầm; - Đường sắt trên cao; - Đường sắt nội đô.
Cầu trong đô thị - Cầu đường bộ (đường ô tô, đường sắt); - Cầu bộ hành; - Cầu cho các loại đường ống hạ tầng kỹ thuật đô thị. Hầm giao thông trong đô thị - Hầm đường ô tô; - Hầm đường sắt; - Hầm bộ hành cho người đi bộ. Đường thủy nội địa - Bến, công trình nâng- hạ tàu cảng biển; - Cảng, bến cho tàu, nhà máy đóng tàu, sửa chữa tàu; - Âu thuyền cho tàu; - Công trình bảo vệ cảng, gia cố bờ. Đường hàng không - Đường băng 7 • Các công trình khác Tuy nen kỹ thuật - Đường hầm chứa cáp điện, cáp thông tin, ống cấp nước … Trạm chữa cháy 1.
Vai trò của công trình hạ tầng kỹ thuật • Cung cấp các dịch vụ thiết yếu; • Hỗ trợ cho sự phát triển của kinh tế vì cơ sở hạ tầng kỹ thuật phát triển thì sẽ thu hút được các nguồn vốn (FDI, ODA,…) dẫn tới đầu tư sẽ tăng làm cho tổng cầu tăng làm cho sản lượng tăng; • Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phát triển dẫn đến việc giảm chi phí (chi phí đi lại, bảo dưỡng, sửa chữa…), lợi nhuận tăng; • Là cơ sở nền tảng bảo đảm cho sự phát triển bền vững một quốc gia nói chung và của hệ thống đô thị nói riêng; • Là nhân tố quan trọng giúp xóa đói giảm nghèo; • Là tiền đề cho việc thực hiện văn minh đô thị; • Góp phần nâng cao dân trí; • Tăng cường hoạt động kinh tế đối ngoại giữa nước ta với các nước trên thế giới. Phân tích một số vai trò cụ thể như sau: • Vai trò quan trọng của cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong đô thị Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là cơ sở vật chất cần thiết cho quá trình phát triển kinh tế xã hội của một khu vực, một đô thị, một trung tâm…. Đô thị hiện đại của thời kỳ công nghiệp hóa ngày nay khác rất nhiều so với thời kỳ kinh tế tập trung trước đây và khác xa với lối sống tập quán cư trú của vùng nông thôn. Đặc điểm lớn nhất của đô thị hiện đại là tập trung một số lượng người rất đông, từ hàng triệu đến hàng chục triệu người, tạo ra mật độ cư trú dày đặc.
8 Đặc điểm thứ hai là cư dân đô thị hoạt động chủ yếu bằng ngành nghề phi nông nghiệp với nhiều phương thức kiếm sống khác nhau, tập trung trong các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, công nghiệp,… Đặc điểm thứ ba là họ thuộc đủ thành phần, tầng lớp xã hội và đa dạng về trình độ văn hóa, kiến thức. Như vậy, tính tập trung dân số cao, dày đặc về nơi cứ trú và đa dạng hóa thành phần dân cư là các yếu tố cơ bản nói lên sự phức tạp của đời sống xã hội đô thị và kéo theo là tính phức tạp của công tác quản lý, sức chịu tải của các hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Thông qua hệ thống này người dân trong đô thị có thể tiến hành các hoạt động kinh tế, chính trị, khoa học kỹ thuật, văn hóa và hoạt động hàng ngày, có thể liên lạc từ đô thị này sang đô thị khác và với khu vực xung quanh. Có thể nói hạ tầng kỹ thuật chính là động lực để đô thị phát triển, thiếu nó xem như các hoạt động đô thị rơi vào tình trạng tê liệt.
Hạ tầng kỹ thuật đô thị là tổng hợp của các ngành sản xuất mang tính phục vụ, sử dụng mạng lưới cơ sở vật chất để cung cấp cho dân cư và các tổ chức trong đô thị, có các loại hình phục vụ như: điện, giao thông, thông tin liên lạc, cấp thoát nước … nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất, sinh hoạt của đô thị. Như vậy, hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị là một hệ thống công trình phức hợp, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, sinh hoạt của xã hội, gắn chặt với đối tượng mà hệ thống phục vụ. Mặt khác, hệ thống hạ tầng kỹ thuật vừa là kết quả của quá trình phát triển đô thị, vừa là điều kiện để tiếp tục phát triển đô thị, việc phát triển hệ thống công trình hạ tầng đô thị đòi hỏi phải xem xét đầy đủ tính chất, bố cục và yêu cầu phát triển dài hạn của đô thị. Trên cơ sở đó, công trình hạ tầng đô thị phải được xem là một hệ thống độc lập có quy hoạch thống nhất và xây dựng thống nhất, cả trên mặt đất lẫn trên không và dưới mặt đất.
Ở nước ta một trong những đột phá trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2011-2020 là xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại, tập trung hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn. • Vai trò của cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong phát triển đô thị 9 Sự di chuyển là trọng tâm của quá trình đô thị hóa. Nó ảnh hưởng đến hình dáng của thành phố vì chính sự di chuyển đã tạo ra phương thức mới trong việc sử dụng lãnh thổ. Sự di chuyển ngày càng tăng lên, sự phát triển và sử dụng các phương tiện giao thông cũng tăng theo, nhu cầu cơ sở hạ tầng kỹ thuật buộc phải tăng lên để đáp ứng được nó.
Trên thực tế, các phương tiện kỹ thuật được sản xuất theo một mục tiêu nào đó, có tính đến lợi ích và sự chấp nhận của xã hội. Sự phát triển của một phương tiện kỹ thuật nào cũng mang lại những giá trị nhất định. Ngay việc sử dụng xe máy đại trà tại các thành phố lớn ở nước ta cũng là do vận tải công cộng không đáp ứng được nhu cầu của người dân. Sự di chuyển xét về mặt không gian không hoàn toàn là hậu quả của quy hoạch đô thị.
Nó liên quan đến vấn đề lớn hơn trong sự phát triển xã hội.Trong thời gian tới hiện tượng này sẽ có cơ hội phát triển, đó là điều chắc chắn. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật giao thông và các phương tiện giao thông là để đáp ứng nhu cầu của quá trình di chuyển. Quy hoạch giao thông đô thị là một bộ phận hết sức quan trọng trong thiết kế đô thị.