Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ XÃ SỦNG TRÁI 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Sủng Trái là một xã nội địa thuộc phía tây, tây nam của huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, cách trung tâm huyện lỵ Đồng Văn hơn 40 km. Vị trí địa lý trong khoảng toạ độ từ 23°05'34,8" đến 23°09'12,6" vĩ bắc, từ 105°12'42,5" đến 105°17'15,1" kinh đông. Phía bắc giáp các xã Hố Quáng Phìn, xã Lũng Phìn của huyện Đồng Văn; phía đông giáp xã Vần Chải của huyện Đồng Văn; phía nam tiếp giáp các xã Mậu Duệ, Mậu Long của huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang, phía tây giáp xã Lũng Phìn của huyện Đồng Văn.
Xã gồm các thôn Há Chớ, Há Đề, Há Pia, Há Su, Phúng Tủng, Pó Sảng, Sủng Của, Sủng Dìa, Sủng Trái, Sủng Tùa, Tìa Súng. Độ cao trung bình của xã Sủng Trái so với mực nước biển 1. Nhìn chung địa hình khá phức tạp, chia cắt mạnh và thấp dần từ tây bắc xuống đông nam. Địa hình huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang chia thành hai dạng địa hình chính là địa hình núi đá lẫn đất và địa hình núi đá, xã Sủng Trái thuộc địa hình núi đá.
Tổng diện tích của xã Sủng Trái tính đến năm 2018 là 2.13], đứng thứ 7 và chiếm 5,89% diện tích toàn huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. Trong đó, đất nông nghiệp (1.013,34 ha), đất lâm nghiệp (648,6ha), đất chuyên dùng gồm đất xây dựng trụ sở các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, đất nghĩa trang… (37,48ha), đất ở (36,89ha), quỹ đất chưa sử dụng (925,49ha). 35% Đất nông nghiệp 38% Đất lâm nghiệp Đất chuyên dùng Đất thổ cư Đất chưa sử dụng 1% 2% 24% Biểu đồ 1.1 Cơ cấu sử dụng đất xã Sủng Trái năm 2018 8 Đất đai được hình thành từ phong hóa tại chỗ từ đá mẹ và đất bồi tụ do xói mòn rửa trôi tạo nên. Nhóm đất đỏ vàng là nhóm đất có tỉ lệ lớn nhất, phát triển tại chỗ với quá trình hình thành đặc trưng của vùng nhiệt đới ẩm - quá trình feralit.
Do địa hình dốc nên quá trình này diễn ra trong điều kiện các silicat bị rửa trôi và các hợp chất sắt, nhôm được tích luỹ. Vỏ phong hoá giàu oxit và hydroxit sắt hình thành các loại đất có màu đỏ vàng. Nhóm đất này có các loại chính là đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất, đất đỏ vàng trên đá magma axit, đất vàng nhạt trên đá cát, đất mùn nâu vàng trên đá vôi, thích hợp với nhiều loại cây như cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả. Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi cũng phát triển tại chỗ.
Trên đất nương rẫy, nhóm đất này có các loại chính là đất mùn vàng đỏ trên đá sét và biến chất, đất mùn vàng nhạt trên đá cát, đất mùn vàng đỏ trên đá macma axit. Đây cũng là nhóm đất thích hợp với hầu hết các loại cây trồng cũng như cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả và cây lâm nghiệp. Về cơ bản, đất nông nghiệp của xã Sủng Trái tương đối mầu mỡ, điều kiện về thổ nhưỡng, thuận lợi phù hợp cho phát triển cây lâm nghiệp, cây ăn quả, cây lâu năm, các loại cây trồng hàng năm và gieo trồng các loại cây lương thực như ngô, khoai rau, đậu các loại, trồng cỏ phục vụ chăn nuôi gia súc (trâu, bò, lợn, dê, nuôi ong lấy mật.), chăn nuôi các loại gia cầm phục vụ đời sống và sản xuất. Do toàn huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang chỉ có một con sông là sông Nho Quế chảy qua nhưng lại không chảy qua địa phận xã Sủng Trái mà lại chạy dọc biên giới Việt - Trung nên tài nguyên nước bị hạn chế.
Hệ thống suối chủ yếu là suối cạn, chỉ có nước vào mùa mưa. Hầu như không có nguồn nước ngầm do độ cao chênh lệch lớn so với mực nước biển trung bình từ 1. Nguồn nước sinh hoạt chủ yếu được dự trữ vào mùa mưa tại các bể nước của các hộ gia đình và hồ treo của xã được đầu tư xây dựng từ ngân sách Nhà nước và tài trợ của các tổ chức, cá nhân. Nguồn nước phục vụ sản xuất hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên, hệ thống kênh mương được xây dựng chỉ để dẫn nước vào mùa mưa.
Do địa hình có nhiều núi cao, vực sâu, địa hình tương đối dốc nên khí hậu mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa, chia làm hai mùa rõ rệt, đó là mùa mưa và mùa khô lạnh so với vùng thấp và trung du kế cận. Khí hậu xã Sủng Trái về cơ bản mang đặc trưng của nhiệt đới do nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa và là miền núi cao. Độ ẩm trong năm cao trung bình 85%, cao nhất lên tới 88%. Có mưa nhiều, mùa mưa kéo dài từ 9 tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa trung bình năm 2.400mm, chiếm từ 80 đến 85% lượng mưa trong năm, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
Nhiệt độ trung bình hàng năm vào khoảng 23,6°C - 27,9°C, phân bố khá đồng đều trên địa bàn xã, dao động nhiệt giữa ngày và đêm ở các thung lũng diễn ra mạnh mẽ hơn so với vùng đồng bằng, biên độ nhiệt trong năm có sự dao động trên 100°C và trong ngày từ 3°C đến 50°C. Thời tiết mát, lạnh hơn vùng Đông Bắc nhưng lạnh hơn Tây Bắc, do đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân. Vào mùa khô, do quá khô hạn dẫn đến thiếu nước cho sinh hoạt và sản xuất, mùa mưa do địa hình độ dốc lớn, độ che phủ của thảm thực vật thấp đã tạo nên dòng chảy mạnh, gây lũ quét, sạt lở đất, đá lăn ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình sản xuất nông lâm nghiệp, giao thông và đời sống của nhân dân. Về tài nguyên khoáng sản, chủ yếu là đá với trữ lượng rất lớn được khai thác làm vật liệu xây dựng thông thường.
Tuy nhiên, việc khai thác gặp nhiều khó khăn do hạ tầng giao thông còn hạn chế, vị trí nằm cách xa trung tâm, khoáng sản lại nằm xen kẽ với nhiều tầng đá. Như vậy, bên cạnh một số điều kiện thuận lợi về điều kiện tự nhiên, xã Sủng Trái gặp phải không ít những khó khăn, thách thức. Những điều kiện trên đã tác động đáng kể đến đời sống kinh tế, xã hội của xã Sủng Trái trong lịch sử cho đến nay. Điều kiện kinh tế, dân cư - xã hội 1.
Điều kiện kinh tế Nông nghiệp: Nhận thức của nhân dân về ứng dụng khoa học kĩ thuật trong sản xuất có sự chuyển biến tích cực, đặc biệt là cây ngô. Tổng diện tích gieo trồng cây lương thực toàn xã là 412,7ha. Diện tích gieo trồng ngô lai (giống mới) năm sau luôn cao hơn năm trước và chiếm tỉ lệ ngày càng cao trong tổng diện tích gieo trồng cây lương thực. Cùng với đưa các giống mới, giống có năng suất cao vào gieo trồng, việc đầu tư phân bón để thâm canh, nâng cao năng suất cũng được xã Sủng Trái chú trọng.
Đảng bộ và Chính quyền xã Sủng Trái luôn triển khai, hỗ trợ nhân dân trong việc đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ, tăng diện tích gieo trồng các loại cây giống mới có năng suất, chất lượng kinh tế cao. Qua đó, thu nhập của người dân được nâng cao, góp phần vào công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn.1 Diện tích, năng suất và sản lượng một số cây trồng năm 2018 10 Diện tích Năng suất Sản lượng Bình quân STT Cây trồng (ha) (tạ/ha) (tấn) (kg/người) 1 Lương thực có hạt 412,7 34,27 1.408,8 216 4 Ngô vụ xuân 407 34,37 1.399,7 223 5 Đậu tương 169 13,9 234,9 36 6 Chè 2,76 2,5 0,7 - Nguồn [12;tr.54-71] Các đàn gia súc (trâu, bò, lợn, dê), gia cầm phát triển ổn định, đều có sự tăng trưởng qua. Xã Sủng Trái luôn tích cực triển khai các chương trình hỗ trợ, phát triển chăn nuôi của huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang như cho vay hộ nghèo, cho vay phát triển chăn nuôi hàng hóa. Trong đó, Nhà nước đã hỗ trợ các hộ nghèo mua trên 60 con bò, xây 60 chuồng trại.
Đảng bộ và Chính quyền xã tập trung chỉ đạo thực hiện mô hình mỗi hộ gia đình có từ 2 con trâu, bò và 600 khóm cỏ, đã có 2/14 thôn của xã thực hiện với 146 hộ tham gia. Một số mô hình được thực hiện có hiệu quả như chăn nuôi lợn nái sinh sản, bò vỗ béo đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân. 523 hộ gia đình có từ 2 con bò trở lên. Để đảm bảo nguồn thức ăn cho đàn gia súc, xã đã vận động nhân dân trồng được 110,9 ha cỏ, trong đó trồng mới được 64,3ha.
Công tác tiêm phòng, phòng chống rét cho các đàn gia súc, gia cầm được quan tâm, đạt tỉ lệ trên 95% tổng đàn gia súc. Đội ngũ cán bộ thú y ở cấp thôn, xóm thường xuyên được kiện toàn, trang thiết bị thú y từng bước được trang bị, đầu tư. Hiện nay, 100% thôn bản đã có cán bộ thú y.2 Số lượng gia súc xã Sủng Trái qua các năm STT Vật nuôi 2014 2015 2016 2017 2018 1 Trâu (con) - - - - - 2 Bò (con) 1.75-77] Lâm nghiệp: Tổng diện tích rừng của xã Sủng Trái hiện có là 648,6 ha [12;tr.81] 11 chia thành rừng trồng (4,19%) và rừng tự nhiên (95,81%). Xã Sủng Trái luôn chú trọng, đẩy mạnh việc trồng, chăm sóc, khoanh nuôi, phục hồi và bảo vệ rừng.
Ngoài việc hưởng các khoản kinh phí trồng, chăm sóc, khoanh nuôi và bảo vệ rừng, các hộ gia đình nhận khoán khoanh nuôi và bảo vệ rừng còn được hỗ trợ gạo lên tới 50 tấn. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng. 14/14 thôn đã xây dựng quy ước, 100% các hộ gia đình ký cam kết bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng [27;tr. Từ năm 2010 đến nay, xã Sủng Trái đã trồng mới được 70ha rừng, trong đó gồm 12ha rừng tập trung, 58ha rừng phân tán.
Độ che phủ rừng đạt 27%. Tiểu thủ công nghiệp: Chủ yếu tập trung vào hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng, đảm bảo công tác quy hoạch của huyện Đồng Văn. Tuy nhiên, do yêu cầu về vật liệu xây dựng để đáp ứng nhu cầu xây dựng các công trình thiết yếu trên địa bàn xã, đặc biệt là xóa nhà tạm, xã Sủng Trái cho phép các hộ dân sản xuất vật liệu nhỏ lẻ, nhưng không gây ảnh hưởng đến kế hoạch quy hoạch chung của huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang về xây dựng Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn.