phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo; kết cấu nội dung luận văn đƣợc chia thành 04 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nƣớc đối với hình thức hợp tác công – tƣ trong phát triển hạ tầng giao thông đƣờng bộ Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với hình thức hợp tác công - tƣ trong phát triển hạ tầng giao thông đƣờng bộ ở Việt Nam Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với các dự án hợp tác công - tƣ trong lĩnh vực giao thông đƣờng bộ ở Việt Nam. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HÌNH THỨC HỢP TÁC CÔNG – TƢ TRONG PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài Mô hình hợp tác công - tƣ đƣợc đánh giá là một trong phƣơng thức quan trọng trong việc thu hút, tạo vốn đầu tƣ từ khu vực tƣ nhân phục vụ phát triển cơ sở hạ tầng ở trên thế giới và tại Việt Nam nói riêng.
Tuy nhiên, thực tế việc phát triển mô hình hợp tác công - tƣ trong đầu tƣ cơ sở hạ tầng đang phải đối mặt với những khó khăn cả trên khía cạnh lý luận khoa học, khuôn khổ pháp lý, chính sách và năng lực triển khai mô hình PPP. Phƣơng thức PPP đã có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài trên thế giới, và trở nên phổ biến từ những năm 1990. Cũng có nhiều nghiên cứu phong phú và đa dạng về PPP, có thể kể đến một số nghiên cứu gần đây và kết luận của các nghiên cứu này: - Hardcastle và các tác giả (2005), Jonh và Sussman (2006) khẳng định không tồn tại một hình thức PPP chuẩn và mỗi nƣớc đều có những chiến lƣợc về PPP riêng tuỳ thuộc vào bối cảnh, thể chế, nguồn tài trợ và tính chất của dự án; - Yscombe (2007), Khulumane (2008) trong nghiên cứu của mình đã nhấn mạnh: các quốc gia có thể chế nhà nƣớc mạnh với khung pháp lý đầy đủ và minh bạch thƣờng thành công với PPP; - Akintoye và các tác giả (2003), Zhang (2005), Young và các tác giả (2009), đã nghiên cứu các nhân tố tác động đến sự thành công của PPP và kết luận rằng không có sự khác biệt về nhân tố này giữa các nƣớc phát triển và đang phát triển; - Sau cuộc khủng khoảng tài chính 2008, nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa PPP và khủng hoảng đã đƣợc thực hiện, điển hình nhƣ nghiên cứu của 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Plum và các tác giả (2009), Micheal (2010), Yelin và các tác giả (2010). Các nghiên cứu đều đi đến kết luận: các điều kiện thị trƣờng hiện nay không loại trừ PPP mà còn tạo ra cơ hội để các nƣớc phát triển PPP ngày càng phù hợp hơn với những thay đổi của môi trƣờng sau khủng hoảng.
Ở Việt Nam, mặc dù quy định về hình thức đầu tƣ PPP mới đƣợc ban hành năm 2010 theo Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg về Quy chế thí điểm mô hình hợp tác PPP, nhƣng trên thực tế mô hình này đã tồn tại từ năm 1997, với Nghị định 77/CP ngày 18/6/1997 về quy chế đầu tƣ theo hình thức BOT và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế sau đó. Nhƣ vậy, sau gần hai mƣơi năm thực hiện quy định về đầu tƣ theo hình thức BOT và PPP, có thể thấy Việt Nam đã đạt đƣợc một số kết quả đáng ghi nhận. Mặc dù là một trong những hình thức hợp tác và đầu tƣ hiệu quả để huy động vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng, song PPP lại chƣa nhận đƣợc sự quan tâm và nghiên cứu đầy đủ, đúng mức. Những nghiên cứu về PPP mới chỉ xuất hiện trong thời gian ngắn gần đây, trong đó tiêu biểu có thể kể tới các công trình: - Đề tài khoa học cấp Bộ của Nguyễn Thị Kim Dung (Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ), “Quan hệ đối tác giữa Nhà nƣớc với khu vực tƣ nhân (PPP) trong cung cấp một số loại dịch vụ công cơ bản: Kinh nghiệm, thông lệ quốc tế tốt và ý nghĩa ứng dụng cho Việt Nam” (2008) là một trong những nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam giới thiệu về thực tiễn PPP trên thế giới và gợi mở khả năng ứng dụng trong điều kiện của Việt Nam.
- Nghiên cứu của Hồ Công Hòa “Mô hình hợp tác công tƣ - giải pháp tăng nguồn vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý của tƣ nhân cho các dự án môi trƣờng ở Việt Nam” (2011) cố gắng chỉ ra sự cần thiết triển khai các dự án hạ tầng về môi trƣờng ở Việt Nam theo hình thức PPP trên cơ sở phân tích nhu cầu và thực trạng môi trƣờng ở Việt Nam và những đặc trƣng của mối quan hệ hợp tác công - tƣ. - Năm 2011, Vụ Pháp chế - Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ đã thực hiện đề tài “Hoàn thiện khung pháp lý về hợp tác giữa nhà nƣớc và tƣ nhân”. Đề tài nghiên cứu tập trung chủ yếu vào việc phân tích, đánh giá thực trạng của việc thực hiện 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các quy định về đầu tƣ phát triển hạ tầng của Việt Nam, hệ thống các quy định về sự hợp tác giữa nhà nƣớc - tƣ nhân trong đầu tƣ phát triển hạ tầng, đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm của các nƣớc trên thế giới về vấn đề này. Qua việc nghiên cứu hoạt động PPP trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, Đề tài cũng đã nghiên cứu đánh giá thực trạng của pháp luật về hợp tác nhà nƣớc, tƣ nhân.
Bên cạnh đó, đề tài cũng đi sâu nghiên cứu các nguyên lý và yếu tố tác động lên sự vận hành của mô hình PPP trên thế giới để tìm ra phƣơng hƣớng hoàn thiện quy định về PPP cho Việt Nam. - Luận án Tiến sĩ kinh tế của Huỳnh Thị Thúy Giang (2012) về “Hình thức hợp tác công - tƣ để phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đƣờng bộ Việt Nam” là một công trình nghiên cứu khá công phu về PPP. Trong nghiên cứu này, tác giả đã nghiên cứu cách thức PPP hoạt động tại những quốc gia chƣa tồn tại thị trƣờng PPP nhƣ Việt Nam để thu hút vốn đầu tƣ phát triển đƣờng bộ thông qua việc nghiên cứu các mô hình thực nghiệm về PPP trên thế giới (bao gồm các nƣớc phát triển và đang phát triển) để tìm hiểu cách thức PPP vận hành và các nhân tố thành công các rào cản của hình thức này trong lĩnh vực đƣờng bộ, lựa chọn mô hình phù hợp áp dụng nghiên cứu trong điều kiện của Việt Nam. Nghiên cứu cũng đánh giá tình hình đầu tƣ tƣ nhân trong lĩnh vực đƣờng bộ ở Việt Nam và khám phá mức độ sẵn lòng khi đầu tƣ vào các dự án PPP đƣờng bộ Việt Nam của khu vực tƣ nhân,thông qua đo lƣờng mức độ thỏa mãn các kỳ vọng của đối tƣợng này.
Nghiên cứu cũng chỉ ra một số cách thức để PPP khởi động và hoạt động thành công để thu hút vốn đầu tƣ phát triển ngành đƣờng bộ Việt Nam. Tuy nhiên, luận án chƣa có nghiên cứu tổng thể về hoạt động quản lý của các chủ thể quản lý các các cơ quan nhà nƣớc đƣợc giao thực hiện chức năng quản lý dự án hợp tác PPP nói chung và dự án PPP lĩnh vực giao thông đƣờng bộ. - Nghiên cứu của Phan Thị Bích Nguyệt “PPP - Lời giải cho bài toán vốn để phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đô thị tại TP. Hồ Chí Minh”, Tạp chí Phát triển và Hội nhập (2013), cố gắng phân tích tính hiệu quả của việc áp dụng mô hình PPP để giải quyết bài toán vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đô 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thị tại Việt Nam; đồng thời cũng chỉ ra một số bất cập trong việc triển khai thí điểm hình thức PPP theo Quyết định 71/2010/QĐ-TTg ban hành Quy chế thí điểm đầu tƣ theo hình thức PPP tại Việt Nam, đặc biệt trong sự thiếu hụt hành lang pháp lý và tính đồng bộ không cao, chƣa hài hòa về cả lợi ích và cơ chế chia sẻ rủi ro giữa các bên.
Nhìn chung, những nghiên cứu kể trên đã phần nào giải đáp và cung cấp những kiến thức cần thiết về PPP và thực tiễn PPP trên thế giới, song thiếu sự gắn kết với tiến trình thực hiện thí điểm hình thức PPP tại Việt Nam theo theo Nghị định 108/2009/ND-CP hay Quyết định 71/2010/QD-TTg, hoặc đi sâu vào những lĩnh vực quá chuyên biệt (nhƣ khung pháp lý, môi trƣờng, đánh giá tình hình đầu tƣ, hay cách thức để thu hút vốn đầu tƣ tại các dự án PPP giao thông đƣờng bộ.) hoặc tại những địa phƣơng cụ thể. Nghiên cứu này đặt mục tiêu khảo sát kinh nghiệm quốc tế về thu hút nguồn vốn tƣ nhân tham gia phát triển các dự án cơ sở hạ tầng theo hình thức PPP, những bài học thành công và thất bại khi áp dụng hình thức này ở các nƣớc phát triển và đang phát triển, phân tích thực trạng khuôn khổ thể chế và quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động đầu tƣ theo hình thức PPP ở Việt Nam hiện nay, từ đó khuyến nghị những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung nhằm tạo lập môi trƣờng thể chế, mô hình quản lý và tiến trình quản lý phù hợp; đẩy mạnh việc áp dụng mô hình PPP tại Việt Nam một cách hiệu quả nhất. Một số vấn đề cần nghiên cứu làm rõ trong quản lý nhà nƣớc đối với hình thức hợp tác công – tƣ tại dự án giao thông đƣờng bộ Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu đi trƣớc liên quan đến hình thức hợp tác công – tƣ trong phát triển hạ tầng giao thông đƣờng bộ, tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục làm rõ nhƣ: - Nhà nƣớc ban hành, thể chế hóa các chính sách và thực thi hệ thống các văn bản pháp luật về hợp tác công – tƣ nói chung và trong phát triển hạ tầng giao thông đƣờng bộ nhƣ thế nào; - Nhà nƣớc hoạch định chiến lƣợc phát triển hạ tầng nói chung và xây dựng, quản lý danh mục dự án PPP phát triển hạ tầng giao thông đƣờng bộ; 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Làm rõ từng hoạt động quản lý nhà nƣớc trong việc vận hành triển khai thực hiện đối với dự án giao thông đƣờng bộ theo hình thức hợp tác công – tƣ.