CHƯƠNG 1: PHONG TRÀO THANH NIÊN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2007 1. Khái quát về phong trào thanh niên thành phố Quy Nhơn trước năm 1997 1. Khái quát về thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Thành phố Quy Nhơn nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Bình Định, phía Đông là biển Đông, phía Tây giáp huyện Tuy Phước, phía Bắc giáp huyện Tuy Phước và huyện Phù Cát, phía Nam giáp thị xã Sông Cầu của tỉnh Phú Yên.
Quy Nhơn nằm trong phạm vi tọa độ từ 13°36' đến 13°54' vĩ độ Bắc, từ 109°06' đến 109°22' kinh độ Đông, cách thủ đô Hà Nội 1.065 km về phía Bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 650 km về phía Nam, cách thành phố Pleiku (Gia Lai) 165 km và cách Đà Nẵng 322 km. Thành phố Quy Nhơn được kết nối với các tỉnh, thành phố khác qua các quốc lộ: Quốc lộ 1A chạy qua Quy Nhơn theo hướng Bắc Nam, dài 48.6 km, cách trung tâm 15 km về hướng tây thành phố. Quốc lộ 1D nối thành phố Quy Nhơn với thị xã Sông Cầu - tỉnh Phú Yên, dài 34. Quốc lộ 19 nối Gia Lai và các tỉnh Tây Nguyên với Quy Nhơn.
Quốc lộ 19 B kết nối Sân bay Phù Cát với Khu kinh tế Nhơn Hội. Thành phố Quy Nhơn có nhiều thế đất khác nhau, đa dạng về cảnh quan địa lý như núi Đen cao 361 m, rừng nguyên sinh (Khu vực đèo Cù Mông), đầm (Đầm Thị Nại), hồ (Hồ Phú Hòa (Phường Nhơn Phú và phường Quang Trung), hồ Sinh Thái (Phường Thị Nại)), sông ngòi (Sông Hà Thanh), biển, bán đảo (Bán đảo Phương Mai) và đảo (Đảo Nhơn Châu – Cù lao xanh), bờ 11 biển Quy Nhơn dài 72 km, diện tích đầm, hồ nước lợ lớn, tài nguyên sinh vật biển phong phú, có nhiều loại đặc sản quý, có giá trị kinh tế cao. Các ngành kinh tế chính của thành phố gồm công nghiệp, thương mại, xuất nhập khẩu, dịch vụ cảng biển, nuôi và khai thác thuỷ hải sản, du lịch. Bên cạnh đó, thành phố Quy Nhơn được biết đến như một thành phố giàu tài nguyên thiên nhiên: về tài nguyên đất có bán đảo Phương Mai với diện tích 100 km2, đầm Thị Nại 50 km2 (trong đó: Quy Nhơn 30 km2, huyện Tuy Phước 20 km), có trên 30.
Khoáng sản quặng titan (xã Nhơn Lý), đá granít (Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân), có ngư trường rộng, đa loài và nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao; đặc sản có yến sào (sản lượng đứng sau tỉnh Khánh Hòa). Nguồn nước ngầm với trữ lượng khá lớn (dọc lưu vực sông Hà Thanh và bán đảo Phương Mai) bảo đảm cung cấp nước sạch cho thành phố. Đặc điểm kinh tế - xã hội Thành phố Quy Nhơn hiện nay có 21 đơn vị hành chính gồm 16 phường, 5 xã (trong đó có 3 xã bán đảo, 01 xã đảo và 1 xã vùng núi), toàn thành phố có 152 khu vực dân cư, thôn (trong đó có 19 thôn). Dân số thường trú của thành phố Quy Nhơn theo số liệu thống kê năm 2009 là 280.085 người, nữ: 144.450 người; dân số khu vực nội thị là 255.463 người, dân số ngoại thị là 25.
Tổng số hộ: 75. Hiện nay trên địa bàn thành phố Quy Nhơn có 06 tôn giáo được Nhà nước công nhận gồm: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Phật giáo Hòa hảo, Minh sư đạo.798 tín đồ các tôn giáo chiếm 19,23% dân số, nam 26. Trong đó: Phật giáo 39.500 người có pháp danh), Công giáo 12.418, Tin lành 363, Phật giáo Hòa hảo 40, Minh sư đạo 100. Chức sắc các tôn giáo có 511 người [81].
Trong thành phố, hoạt động kinh tế chủ yếu là công - thương nghiệp, 12 dịch vụ. Về cơ cấu các ngành kinh tế của thành phố Quy Nhơn có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp dịch vụ, giảm tỷ lệ ngành nông lâm ngư nghiệp trong GDP. Trong nhiệm kỳ 2010 – 2015, tổng sản phẩm địa phương (GRDP) bình quân hàng năm tăng 11% trong đó: lĩnh vực công nghiệp - xây dựng tăng 10,3%, dịch vụ tăng 12,4% và nông - lâm - thủy sản tăng 3,8%. GRDP bình quân đầu người đến cuối năm 2014 đạt 66 triệu đồng (3.052 USD) tăng gấp 2 lần so với năm 2010.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực: công nghiệp - xây dựng 47,6%, dịch vụ 46,9% và nông - lâm - thủy sản 5,5%. Mục tiêu phát triển của thành phố theo đồ án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là phấn đấu đến năm 2025 trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, là một trong những thành phố trung tâm vùng duyên hải miền Trung. Đến năm 2035 là trung tâm kinh tế biển quốc gia, đến năm 2050 là một trong những thành phố quan trọng trong hệ thống đô thị quốc gia và Đông Nam Á. Như vậy, những điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội của thành phố Quy Nhơn là những nhân tố tác động đến phong trào thanh niên Quy Nhơn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Khái quát về phong trào thanh niên thành phố Quy Nhơn trước năm 1997 1. Truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng của thanh niên thành phố Quy Nhơn Thành phố Quy Nhơn trong thế kỷ XVIII là một trong những trung tâm ghi dấu các chiến công hào hùng của phong trào Tây Sơn. Từ 1777 đến 1785 tại căn cứ thủy quân Thị Nại nghĩa quân Tây Sơn đã 5 lần xuất quân tiến đánh Gia Định. Năm 1786 từ cảng Thị Nại quân Tây Sơn tiến công ra Phú Xuân và 13 thẳng tiến ra Bắc Hà giải phóng Thăng Long.
Cảng Thị Nại còn là nơi giao tranh quyết liệt giữa quân Tây Sơn với quân Nguyễn Ánh và 1 số trận đánh với người Bồ Đào Nha và Pháp. Sau khi triều đình Huế ký các hiệp ước 1883, 1884 đầu hàng thực dân Pháp, nước ta trở thành nước thuộc địa của người Pháp. Mặc dù triều đình nhà Nguyễn đã đầu hàng, cam tâm làm tay sai cho Pháp, song có một bộ phận hoàng tộc cùng quan quân kiên quyết đánh Pháp khôi phục nền độc lập dân tộc. Năm 1885, vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương kêu gọi các lực lượng quân và dân cả nước phò vua cứu nước.
Các cuộc khởi nghĩa hưởng ứng lời kêu gọi của vua Hàm Nghi bùng lên mạnh mẽ, liên tục trong suốt 10 năm. Ở Bình Định, nhiều văn thân sĩ phu yêu nước đã tập hợp quần chúng nhân dân khởi nghĩa chống Pháp và triều đình phong kiến phản động. Ngày 21/7/1885, Nguyễn Doãn Địch tập hợp lực lượng nổi dậy đánh chiếm thành Bình Định. Đồng thời tại vùng đất Phú Lạc huyện Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn) Mai Xuân Thưởng đã tập hợp nhân dân dựng cờ khởi nghĩa, nghĩa quân liên kết với cuộc khởi nghĩa của Tăng Bạt Hổ tại vùng núi thuộc huyện Hoài Ân, tạo nên phong trào Cần Vương mạnh mẽ ở Bình Định.
Tháng 5/1898, nhân dân Quy Nhơn tham gia hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Võ Trứ (quê ở Tuy Phước – Bình Định) tại Sông Cầu (tỉnh Phú Yên) chống lại giặc Pháp. Những năm 1923 – 1924, tại Quy Nhơn và các huyện đã diễn ra các tổ chức “Hợp đoàn”, lập các hội buôn, vận động quần chúng sử dụng hóa nội địa. Đồng thời trong giai đoạn này, tại thành phố Quy Nhơn phát triển mạnh phong trào đấu tranh vì mục tiêu dân tộc và dân chủ. Các cuộc đấu tranh, mít tinh của học sinh, sinh viên và quần chúng nhân dân lao động Quy Nhơn diễn ra sôi nổi.
Cuối năm 1925 học sinh trường Quốc Học Quy Nhơn hưởng ứng 14 phong trào đấu tranh của nhân dân cả nước đấu tranh đòi thả cụ Phan Bội Châu. Ngày 28/3/1926 hàng trăm học sinh trường Quốc Học Quy Nhơn bất chấp cấm đoán của nhà trường, long trọng tổ chức lễ truy điệu Phan Châu Trinh dưới chân núi Xuân Quang (Gành Ráng – Quy Nhơn). Các phong trào yêu nước do học sinh, sinh viên, quần chúng nhân dân Quy Nhơn nói riêng và của tỉnh Bình Định nói chung, diễn ra mạnh mẽ thể hiện tinh thần đấu tranh không khoan nhượng trước ách áp bức bóc lột của chính quyền thực dân phong kiến. Tuy nhiên các cuộc đấu tranh đó mặc dù đã tạo được sức ảnh hưởng trong quần chúng nhân dân, song thực tế kết quả đều không giành được thắng lợi vì thiếu hẳn tổ chức lãnh đạo theo một đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với yêu cầu của lịch sử dân tộc.
Đây cũng là thực tiễn chung trong phong trào yêu nước của nước ta trong những năm đầu thế kỷ XX. Đứng trước bối cảnh đó không ít thanh niên, sĩ phu yêu nước khắp nơi đã nghiên cứu tìm kiếm con đường cứu nước mới. Nhiều người trong số đó đã trở thành học trò xuất sắc của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, họ trở thành lực lượng làm cầu nối giữa quần chúng nhân dân với lý tưởng cách mạng vô sản, họ truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam. Ở Quy Nhơn, một số thủy thủ Hãng vận tải đường biển Quy Nhơn đã bí mật đưa các tác phẩm, sách báo tiến bộ như “Bản án chế độ thực dân Pháp”, “Đường Kách mệnh” xuất bản ở Trung Quốc, Liên Xô vào lưu hành bí mật trong giới thanh niên, trí thức yêu nước.
Các tài liệu này nhanh chóng được thanh niên, trí thức, công nhân tiếp nhận đã góp phần làm chuyển biến ý thức hệ, chuyển từ đấu tranh yêu nước đơn thuần sang đấu tranh cách mạng theo ngọn cờ cách mạng vô sản. Thời kỳ này tổ chức Thanh niên cứu Quốc chưa được thành lập, chưa có tổ chức lãnh đạo thống nhất, tuy nhiên thanh niên Quy Nhơn luôn đóng vai 15 trò tiên phong, hăng hái tham gia các hoạt động đấu tranh chống ách áp bức bóc lột của chính quyền thực dân – phong kiến. Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Đảng bộ các địa phương cũng được thành lập. Ở Bình Định, tại nhà máy Đèn Quy Nhơn, tiểu tổ của tổ chức Tân Việt cách mạng Đảng là những người đầu tiên ở Bình Định liên lạc với Xứ ủy Trung kỳ Đảng Cộng sản Việt Nam để xin gia nhập Đảng.
Đến tháng 3/1930, Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên của tỉnh Bình Định được thành lập tại nhà máy Đèn Quy Nhơn [5, tr. Đến cuối tháng 11/1930, Đảng bộ Quy Nhơn có 2 Chi bộ gồm Chi bộ Nhà máy Đèn và Chi bộ trường Quốc Học, có tất cả 15 đảng viên xuất thân từ giai cấp công nhân, trí thức trẻ, thanh niên, học sinh cùng với 40 hội viên Công hội đỏ và Sinh hội đỏ [47, tr.