Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Đà Nẵng sau khi trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương năm 1997 đã đạt được những bước phát triển vượt bậc về kinh tế và xã hội. Trong giai đoạn 1997 - 2000, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) bình quân đạt 10,21%/năm, giai đoạn 2001 - 2006 đạt 12,47%/năm và giai đoạn 2005 - 2010 duy trì ở mức 11,0%/năm. Đến năm 2006, quy mô GDP tính theo giá so sánh năm 1994 đã tăng 1,95 lần so với năm 1996, và GDP bình quân đầu người đạt trên 1.015 USD, cao gấp 1,6 lần so với mức bình quân của cả nước. Với diện tích tự nhiên 1.283 km² cùng dân số khoảng 922,6 nghìn người phân bổ tại 6 quận và 2 huyện, thành phố đứng trước yêu cầu phải chuyển dịch mạnh mẽ mô hình phát triển từ chiều rộng sang chiều sâu.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa với thực trạng phát triển tri thức khoa học và công nghệ trên địa bàn. Quy mô kinh tế của địa phương thời điểm bấy giờ còn khiêm tốn, tích lũy nội tại hạn chế, năng lực cạnh tranh trong một số ngành mũi nhọn chưa cao. Mục tiêu của luận văn là làm rõ cơ sở lý luận triết học về tri thức khoa học - công nghệ, đánh giá thực trạng phát triển nguồn lực này tại Đà Nẵng từ năm 1997 đến năm 2013, từ đó xác lập hệ thống giải pháp đưa Đà Nẵng trở thành đô thị công nghiệp hiện đại trước năm 2020.

Ý nghĩa của công trình thể hiện qua việc cung cấp luận cứ triết học và thực tiễn để nâng cao tỷ lệ đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), hoàn thiện chính sách đào tạo nhân lực kỹ thuật cao và thúc đẩy tốc độ đổi mới công nghệ đạt trên 15%/năm trong toàn bộ cơ cấu kinh tế đô thị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, trọng tâm là lý luận hình thái kinh tế - xã hội của C. Mác và Ph. Ăng-ghen. Trục lý thuyết chủ đạo dựa trên luận điểm khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Lịch sử kinh tế nhân loại trải qua 4 thời đại lớn gồm: kinh tế tự nhiên nguyên thủy, kinh tế nông nghiệp, kinh tế công nghiệp cơ khí và kinh tế tri thức. Ở giai đoạn hiện đại, tri thức và thông tin đã thay thế lao động cơ bắp và tài nguyên thiên nhiên để trở thành nhân tố quyết định giá trị gia tăng.

Bên cạnh đó, đề tài kết hợp tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kỹ thuật gắn liền với thực tiễn sản xuất và chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bốn khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm:

  1. Tri thức khoa học: Kết quả nhận thức thế giới khách quan được kiểm nghiệm qua thực tiễn, phân chia theo chiều dọc thành tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận, theo chiều ngang thành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội - nhân văn và khoa học kỹ thuật - công nghệ.
  2. Tri thức công nghệ: Dạng tri thức đã được vật thể hóa thành hệ thống công cụ, máy móc, quy trình thao tác nhằm biến đổi trực tiếp đối tượng lao động.
  3. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh từ sử dụng lao động thủ công sang sử dụng phổ biến lao động cùng công nghệ tiên tiến nhằm tạo năng suất lao động xã hội vượt trội.
  4. Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ: Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, giữ vai trò chủ thể sáng tạo và vận hành các phương tiện sản xuất hiện đại.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ Niên giám thống kê thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997 - 2010, các báo cáo chuyên đề của Sở Khoa học và Công nghệ, Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng cùng hệ thống văn kiện Đại hội Đảng bộ thành phố các thời kỳ. Timeline khảo sát tập trung chuyên sâu trong 16 năm, từ năm 1997 đến năm 2013.

Về quy mô mẫu, đề tài thu thập và phân tích dữ liệu tổng thể của hơn 450.000 người trong lực lượng lao động toàn thành phố tại 8 đơn vị hành chính (6 quận nội thành và 2 huyện ngoại thành Hòa Vang, Hoàng Sa). Dữ liệu được cấu trúc thông qua 4 bảng thống kê then chốt gồm: Lực lượng lao động Đà Nẵng giai đoạn 1997 - 2009, Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động, Cơ cấu ngành nghề của đội ngũ trí thức và Mạng lưới các trung tâm nghiên cứu khoa học - công nghệ trên địa bàn.

Phương pháp chọn mẫu chỉ tiêu toàn diện kết hợp phân tầng theo ngành nghề và cấp độ quản lý được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện cao cho cấu trúc kinh tế đô thị loại một. Phương pháp phân tích chủ yếu là trừu tượng hóa khoa học, phân tích - tổng hợp, thống kê so sánh và logic kết hợp lịch sử. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này là nhằm khám phá các mối liên hệ bản chất, quy luật vận động nội tại giữa sự phát triển của tri thức lý luận với quá trình biến đổi lực lượng sản xuất, vượt lên trên việc mô tả các hiện tượng kinh tế bề mặt đơn thuần.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng từ năm 1997 đến năm 2013 ghi nhận 4 phát hiện cốt lõi:

Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế duy trì tốc độ cao liên tục trong nhiều giai đoạn. Tốc độ tăng GDP bình quân đạt 10,21% trong giai đoạn 1997 - 2000, tăng lên 12,47% ở giai đoạn 2001 - 2006 và đạt 11,0% ở giai đoạn 2005 - 2010. Sau một thập kỷ đổi mới (1996 - 2006), quy mô GDP thực tế tăng 1,95 lần, đưa mức thu nhập bình quân đầu người năm 2006 lên 1.015 USD, vượt 60% so với mức trung bình của cả nước.

Thứ hai, chất lượng lực lượng lao động có bước chuyển biến tích cực nhưng còn mất cân đối. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo kỹ thuật tăng trưởng đều qua các năm từ 1997 đến 2009, song đội ngũ nhân lực có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học chủ yếu tập trung tại khu vực dịch vụ hành chính và thương mại (chiếm trên 55%), trong khi tỷ lệ kỹ sư công nghệ trực tiếp phục vụ sản xuất công nghiệp mũi nhọn chỉ đạt khoảng 28% tổng lực lượng lao động kỹ thuật.

Thứ ba, mạng lưới hạ tầng khoa học và công nghệ mở rộng nhanh chóng. Thành phố đã hình thành hơn 15 trung tâm, viện nghiên cứu, trường đại học thành viên thuộc Đại học Đà Nẵng và các cơ sở trực thuộc bộ ngành. Tuy nhiên, tỷ lệ đề tài nghiên cứu ứng dụng được thương mại hóa hoặc chuyển giao công nghệ trực tiếp cho doanh nghiệp địa phương chỉ chiếm khoảng 22% đến 25% tổng số công trình nghiệm thu.

Thứ tư, cơ cấu đầu tư cho đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp còn mỏng. Mặc dù số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng bình quân 14%/năm, nhưng tỷ lệ vốn dành cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của các doanh nghiệp chế biến, chế tạo chỉ đạt mức xấp xỉ 0,3% đến 0,5% doanh thu hàng năm, dẫn đến tốc độ đổi mới máy móc thiết bị chỉ đạt khoảng 7% - 9%/năm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của các hạn chế trên xuất phát từ sự gắn kết lỏng lẻo giữa 3 nhà: Nhà nước, Nhà khoa học và Nhà doanh nghiệp. Cơ chế tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp khoa học thời điểm này còn nhiều vướng mắc, thị trường công nghệ vận hành chưa đồng bộ và thiếu vắng các quỹ đầu tư mạo hiểm dành cho sáng chế kỹ thuật.

So sánh với các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực công nghiệp hóa của TS. Trần Hồng Lưu và TS. Dương Anh Hoàng, kết quả của luận văn khẳng định rõ hơn tính biện chứng: tri thức chỉ thực sự trở thành lực lượng sản xuất khi nó được vật thể hóa thành trang thiết bị tiên tiến và năng lực làm chủ kỹ thuật của người lao động. Khi đối chiếu với các mô hình phát triển tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, tốc độ tích tụ tri thức của Đà Nẵng diễn ra nhanh hơn ở khối hành chính công và dịch vụ du lịch nhưng lại có độ trễ nhất định trong lĩnh vực công nghiệp chế tạo và công nghệ thông tin.

Toàn bộ hệ thống dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa thông qua Bảng so sánh tốc độ tăng trưởng kinh tế qua 3 thời kỳ và Biểu đồ phân bổ cơ cấu trình độ chuyên môn của lực lượng lao động giai đoạn 1997 - 2009. Cách trình bày này giúp nhận diện rõ sự chuyển hóa từ tích lũy về lượng của vốn tri thức sang sự biến đổi về chất trong năng suất lao động xã hội của địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm đẩy mạnh phát triển tri thức khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố Đà Nẵng, hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược được xác lập như sau:

  1. Kiến tạo môi trường thể chế kinh tế, văn hóa và thị trường công nghệ
  • Hành động: Thành lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ địa phương, ban hành quy chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và sàn giao dịch công nghệ trực tuyến.
  • Target metric: Nâng tỷ trọng đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế lên mức 35% - 40%, đạt tốc độ đổi mới công nghệ bình quân 15%/năm.
  • Timeline: Hoàn thành khung pháp lý và vận hành sàn giao dịch trong giai đoạn 2014 - 2016.
  • Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp cùng Sở Tài chính.
  1. Nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo theo định hướng ứng dụng
  • Hành động: Tái cấu trúc chương trình đào tạo tại Đại học Đà Nẵng theo chuẩn quốc tế, gắn kết chặt chẽ đào tạo đại học với nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp công nghệ.
  • Target metric: Đạt tỷ lệ 65% lao động qua đào tạo kỹ thuật vào năm 2020, trong đó 30% thuộc các ngành công nghệ cao.
  • Timeline: Triển khai thí điểm từ năm 2014 và nhân rộng toàn diện trong giai đoạn 2015 - 2018.
  • Chủ thể thực hiện: Đại học Đà Nẵng, Sở Giáo dục và Đào tạo, các trường cao đẳng nghề trên địa bàn.
  1. Đẩy mạnh phát triển hạ tầng và chuyển giao công nghệ cao
  • Hành động: Tập trung nguồn lực hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật Khu công nghệ cao Đà Nẵng và Công viên phần mềm, ưu tiên công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và vật liệu mới.
  • Target metric: Thu hút từ 10 đến 15 dự án đầu tư R&D quốc tế với tổng vốn đăng ký vượt 200 triệu USD trước năm 2020.
  • Timeline: Giai đoạn 2014 - 2020.
  • Chủ thể thực hiện: Ban Quản lý Khu công nghệ cao Đà Nẵng, Sở Kế hoạch và Đầu tư.
  1. Phát triển và trọng dụng nguồn nhân lực khoa học trình độ cao
  • Hành động: Ban hành chính sách ưu đãi đặc thù về nhà ở, thu nhập và điều kiện làm việc để thu hút các chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành về làm việc tại thành phố.
  • Target metric: Tăng gấp 2 lần số lượng tiến sĩ, chuyên gia kỹ thuật mũi nhọn trong các ngành công nghiệp chủ lực.
  • Timeline: Ban hành chính sách trong năm 2014, triển khai đánh giá hiệu quả định kỳ hàng năm đến 2020.
  • Chủ thể thực hiện: Ban Tổ chức Thành ủy, Sở Nội vụ và các sở ban ngành liên quan.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là nguồn tư liệu khoa học giá trị, cung cấp giải pháp và phương pháp luận chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách tại Đà Nẵng cùng khu vực miền Trung: Cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng và luận cứ triết học để xây dựng quy hoạch kinh tế - xã hội, định hình chính sách phát triển kinh tế tri thức và phân bổ ngân sách cho khoa học công nghệ giai đoạn đến năm 2020.

  2. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Triết học, Kinh tế chính trị, Quản lý khoa học: Tài liệu phục vụ giảng dạy và nghiên cứu về quy luật vận động của lực lượng sản xuất, vai trò của tri thức lý luận trong thực tiễn công nghiệp hóa rút ngắn tại các đô thị đang phát triển.

  3. Lãnh đạo doanh nghiệp, ban quản lý các khu công nghiệp và khu công nghệ cao: Tham khảo định hướng xây dựng chiến lược R&D, phương thức liên kết viện - trường và kinh nghiệm tối ưu hóa nguồn lực con người để nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm.

  4. Các tổ chức tư vấn phát triển vùng và nhà nghiên cứu kinh tế đô thị: Cung cấp khung phân tích đa chiều về sự tương tác giữa điều kiện tự nhiên, truyền thống văn hóa với tốc độ tiếp thu tri thức khoa học hiện đại trong mô hình phát triển đô thị ven biển.

Câu hỏi thường gặp

  1. Đề tài tiếp cận vấn đề phát triển tri thức khoa học và công nghệ dưới góc độ triết học như thế nào? Luận văn tiếp cận vấn đề dựa trên phương pháp luận duy vật lịch sử, phân tích tri thức như một yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất. Nghiên cứu tập trung luận giải quá trình chuyển hóa biện chứng từ tri thức kinh nghiệm sang tri thức lý luận và quá trình vật thể hóa tri thức thành công nghệ sản xuất, giúp giải phóng sức lao động và thay đổi căn bản cơ cấu kinh tế đô thị.

  2. Những số liệu nào chứng minh sự tăng trưởng vượt bậc của Đà Nẵng giai đoạn 1997 - 2010? Kinh tế thành phố đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm là 10,21% (1997 - 2000), 12,47% (2001 - 2006) và 11,0% (2005 - 2010). Sau 10 năm từ 1996 đến 2006, GDP tăng 1,95 lần và GDP bình quân đầu người đạt trên 1.015 USD, gấp 1,6 lần mức bình quân chung của cả nước, khẳng định vị thế đô thị hạt nhân miền Trung.

  3. Khung thời gian và phạm vi dữ liệu của luận văn được xác lập ra sao? Phạm vi không gian bao quát toàn bộ 8 đơn vị hành chính của thành phố Đà Nẵng gồm 6 quận và 2 huyện với dân số 922,6 nghìn người (tính đến năm 2010). Dữ liệu phân tích thực trạng kéo dài từ năm 1997 đến năm 2013, trọng tâm là chuỗi thống kê 12 năm liên tục từ 1997 đến 2009 về lao động và mạng lưới cơ sở nghiên cứu.

  4. Vì sao Đà Nẵng phải ưu tiên phát triển công nghệ cao thay vì công nghiệp truyền thống? Với diện tích tự nhiên hạn hẹp 1.283 km² và nguồn tài nguyên khoáng sản không dồi dào, Đà Nẵng không thể dựa vào mô hình khai thác tài nguyên thô hay sử dụng lao động cơ bắp giá rẻ. Công nghệ cao giúp tạo ra giá trị gia tăng lớn trên một đơn vị diện tích, khai thác tối đa lợi thế cảng biển và hạ tầng giao thông kết nối quốc tế.

  5. Đâu là giải pháp mang tính đột phá để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại địa phương? Giải pháp đột phá là thực hiện chính sách thu hút chuyên gia đầu ngành gắn liền với cơ chế tự chủ tài chính cho các viện, trường và khu công nghệ cao. Thành phố cần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo kỹ thuật đạt trên 65% vào năm 2020 và thiết lập mối liên kết bắt buộc giữa đào tạo học thuật với chuỗi giá trị sản xuất thực tế.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò động lực trực tiếp của tri thức khoa học và công nghệ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
  • Phân tích bức tranh thực tiễn sinh động của thành phố Đà Nẵng từ năm 1997 đến năm 2013 với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trên 11%/năm và mức tăng quy mô kinh tế 1,95 lần sau một thập kỷ.
  • Chỉ rõ những điểm nghẽn về cơ cấu nhân lực kỹ thuật cao và tỷ lệ thương mại hóa sáng chế còn thấp (dưới 25%), từ đó xác định nguyên nhân cốt lõi do cơ chế thể chế và chính sách liên kết ba nhà chưa đồng bộ.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi bao gồm hoàn thiện môi trường kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng giáo dục, phát triển hạ tầng công nghệ cao và thu hút nhân tài chuyên sâu.
  • Đề ra lộ trình thực hiện cụ thể theo các mốc thời gian 2014 - 2016 và 2014 - 2020 nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa Đà Nẵng trở thành trung tâm kinh tế tri thức và thành phố công nghiệp hiện đại.

Các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và doanh nghiệp hãy tích cực ứng dụng các luận cứ khoa học và giải pháp từ công trình nghiên cứu này vào thực tiễn quản trị để chung tay thúc đẩy tiềm năng đổi mới sáng tạo, tạo động lực phát triển bền vững cho thành phố Đà Nẵng trong kỷ nguyên kinh tế tri thức.