CHƯƠNG 1 Chương | trinh bay tom tat kiến thức cơ bản về lớp mô hình hồi quy không gian cho dữ liệu mảng để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu. Có thể nói mô hình hồi quy không gian là mô hình cho phép khai thác thông tin sâu hơn các thông tin của đữ liêu nghiên cứu mà lớp mô hình hồi quy truyền thống không thể làm được ở những đặc tính sau: Thứ nhất, mô hình hồi quy không gian cho thấy mối liên hệ tương tác giữa các biến PT và các biến ÐL trong không gian. Qua đó, cho thấy cơ chế xảy ra tương tác đó. Thứ hai, có thê tính toán được các ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của mỗi biến độc lập đến biến phụ thuộc theo từng khu vực/địa phương.
Thứ ba, xác định được mức độ ảnh hưởng của các cú sốc ngẫu nhiên tại một khu vực lan tỏa sang khu vực khác trong dữ liệu nghiên cứu. Tác động lan tỏa sẽ giảm dần theo khoảng cách địa lý. TONG QUAN CO SO LY THUYET VE LAN TOA CÔNG NGHỆ 2. Tổng quan tài liệu 2.
Hoạt động R&D và lan tỏa công nghệ Theo Shell (1966), hoạt động nghiên cứu & phát triển (R&D) được xem là một trong những hoạt động quan trọng trong việc tạo tri thức và cải tiễn năng suất. Hoạt động R&D gồm: hỗ trợ nghiên cứu khoa học cơ bản, và khuyến khích các doanh nghiệp tự nghiên cứu phát triển các hoạt động mới. Theo Braconier & ctg (1998), hoạt động R&D không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất doanh nghiệp thực hiện R&D mà còn có thể tạo ra hiệu ứng lan tỏa làm tăng năng suất các doanh nghiệp khác. Braconier & Sjoholm (1998), cho rằng với quyền sở hữu trí tuệ không hoàn hảo cộng với chi phí biên của việc tái tạo kết qua tr R&D thap nên hoạt động phát triển R&D tại một doanh nghiệp này có thê lan tỏa sang các hoạt động phát triển R&D của doanh nghiệp khác thông qua việc bắt chước, thiết kế ngược hoặc công tác nhân sự.
Lan tỏa từ hoạt động R&D không chỉ diễn ra trong phạm vi quốc gia mà còn trên phạm vi quốc tế. Trên phạm vi quốc tế, các công ty đa quốc gia (MNEs) đóng một vai trò quan trọng trong việc tiến hành các hoạt động R&D trên thế giới và sở hữu phần lớn công nghệ tiên tiến. Theo Mansfield & Romeo (1980), công nghệ được chuyển giao từ các công ty mẹ sang công ty con bao giờ cũng lạc hậu hơn so với các công nghệ được bán ra bên ngoài thông qua các thỏa thuận cấp phép. Kiến thức công nghệ thường hay bị rò rỉ sang các công ty địa phương trong quá trình chuyển giao cho các công ty con.
Do vậy, lan tỏa công nghệ từ hoạt động R&D thường làm tăng năng suất của các doanh nghiệp địa phương. Có rất nhiều nghiên cứu về tác động của doanh nghiệp tự nghiên cứu và phát triển R&D đến năng suất doanh nghiệp thực hiện. Bất chấp sự khác biệt về dữ liệu, phương pháp luận và phương pháp đo lường đối với R&D được sử dụng, phần lớn các kết quả nghiên cứu đều cho thấy sự đóng góp tích cực của lan tỏa năng suất từ R&D (Griliches, 1992). Nghién ctru về sự lan tỏa R&D quốc tế thường được thực hiện ở câp vĩ mô nhiêu hơn thực hiện ở cấp độ vi mô, vì dựa trên niềm tin rằng các 17 quốc gia tuân theo giai đoạn phát triển, độ mở và nguồn cung và cường độ của R&D.
Chẳng hạn, nghiên cứu Bernstein (2000) phát hiện ra rằng nhân tố chính ảnh hưởng đến TFP trong ngành sản xuất của Canada giai đoạn 1966-1991 là do tác động tràn từ Mỹ. Một nghiên cứu khác, Feinberg & ctg., (2001) chỉ ra rằng mức độ lan tỏa tích cực từ hoạt động R&D của ngành dược phẩm Án Độ trong giai đoạn 1980-1994 chỉ xảy ra giữa các nhóm MNEs. Sy lan toa ttr cac MNEs sang cac cong ty Ấn Độ diễn ra không hoàn toàn. Bằng chứng trái chiều này cho thấy hiệu quả của sự lan tỏa năng suất từ hoạt động R&D quốc tế phần lớn phụ thuộc vào môi trường, chính sách của nước sở tại (Feinbergand & ctg, 2001) và khả năng tiếp cận công nghệ của các doanh nghiệp địa phương (Cantwell, 1993).
Hoạt động xuất khẩu và lan tỏa công nghệ Nâng cao năng lực xuất khẩu bằng cách tạo ra nhiều lợi ích khác nhau, chang hạn như sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn, năng lực sản xuất lớn hơn và thu được hiệu ứng quy mô liên quan đến các thị trường quốc tế rộng lớn (Bhagwati, 1978; Krueger, 1978; Obsfeld & Rogoff, 1996). Lý thuyết tăng trưởng nội sinh cho rằng, thương mại quốc tế là một kênh quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển, chuyên giao và phổ biến công nghệ. Việc tham gia vào thị trường xuất khâu giúp các doanh nghiệp trong nước tiếp xúc với thông lệ quốc tế, học tập nâng cao năng suất. Hoạt động xuất khẩu cũng có thể làm tăng năng suất bằng biện pháp thúc đây phát triển công nghệ mới (Hejazi & Safarian, 1999).
Lan tỏa công nghệ thông qua các hoạt động xuất khâu. Blomstrom & Kokko (1998) cho rằng các MNEs có kinh nghiệm về tiếp thị quốc tẾ, các mạng lưới phân phối quốc tế đã được thiết lập và sức mạnh trong vận động hành lang tại các thị trường của họ. Điều này cho phép MNEs sở hữu những lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường thế giới. Theo Gorg & ctg, (2004), các MNEs có lợi thế về kinh nghiệm tiếp thị quốc tế nên thường khai thác chúng để xuất khẩu từ nước sở tại mới.
Với kết quả của các hoạt động xuất khẩu của họ, các MNEs mở đường cho các doanh nghiệp bản địa ở nước sở tại thâm nhập vào các thị trường xuất khẩu, tương 18 tự, bởi vì họ tạo ra cơ sở hạ tầng giao thông hoặc phô biến thông tin về thị trường nước ngoài mà các doanh nghiệp bản địa này có thê sử dụng. FDI và sự lan tỏa công nghệ Lý do quan trọng nhất tại sao các quốc gia cô gắng thu hút FDI có lẽ là họ kỳ vọng có được công nghệ hiện đại, hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm: sản phẩm, quy trình phân phối, công nghệ, cũng như các kỹ năng quản lý và tiếp thị (Blomstrom và Kokko, 1998). FDI là một gói bao gồm vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý, và được xem coi là một nguồn quan trọng của cả đầu vào vốn trực tiếp và công nghệ. Balasubramanyam & ctg, (1996) cho rằng các nước đang phát triển có thê hưởng lợi đáng kế từ hoạt động FDI bởi vì nó không chỉ chuyên giao bí quyết sản xuất và năng lực quản lý mà còn tạo ra ngoại tác, hoặc tác động tràn.
Nghiên cứu của Blomstrim & Kokko (1998) đã tóm tắt những phương thức sau đây mà thông qua đó công nghệ lan truyền tới các doanh nghiệp nội địa thông qua hoạt động từ FDI. Hoạt động FDI đóng góp vào hiệu quả hoạt động doanh nghiệp bằng cách phá vỡ các nút thắt bằng cách đưa bí quyết công nghệ mới và đào tạo nguồn nhân lực làm việc trong các công ty địa phương, phá vỡ thế độc quyền và kích thích cạnh tranh cũng như việc chuyên giao công nghệ cho các nhà cung cấp địa phương và ép buộc các doanh nghiệp địa phương tăng cường năng lực quan ly của họ. Tuy nhiên, có thể có những tác động ngoại tác tiêu cực từ hoạt động FDI. Aitken va Harrison (1999) đã lưu ý, sự gia nhập của các công ty nước ngoài theo định hướng thị trường địa phương có thể thu hút nhu cầu từ các công ty địa phương, khiến họ phải cắt giảm sản lượng.
Do đó, năng suất của các doanh nghiệp địa phương sẽ giảm khi họ quay ngược trở lại đường cong chi phí bình quân của họ. Kết quả là, năng suất ròng của địa phương có thê giảm xuống. Một số nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng về những hiệu ứng lan tỏa tích cực từ hoạt động FDI, chẳng hạn như Kokko & ctg, (1996) cho lĩnh vực sản xuất của Uruguay; Wei và Liu (2001) đối với Trung Quốc. Trong khi đó, nghiên cứu của Ruane & Ugur (2005) cho thấy bằng chứng yếu về sự lan tỏa tích cực của hoạt động FDI ở Ireland, và bằng chứng này cũng nhạy cảm với định nghĩa và cách đo lường về sự hiện diện của hoạt động FDI.
Kết quả nghiên cứu hỗn hợp cũng được báo cáo 19 trong Aitken & Harrison (1999) cho ngành công nghiệp Venezuela và Buckley & ctg, (2002), Hu & Jefferson (2002) và Huang (2004) cho Trung Quốc. Nguyên nhân các nhận định trái chiều, hỗn hợp có thể phát sinh từ các phương pháp ước lượng khác nhau. Như được chỉ ra bởi Gorg & Greenaway (2004), chỉ 22 trong số 40 nghiên cứu được lựa chọn về tác động lan tỏa năng suất theo “chiểu ngang” (tính đến năm 2002) cho kết quả tích cực và có ý nghĩa thống kê rõ ràng. Tuy nhiên, trong số 22 nghiên cứu này, 16 nghiên cứu sử dụng đữ liệu chéo và do đó kết quả của có thể còn nghỉ ngờ, bởi vì sử dụng thông tin từ đữ liệu bảng cấp doanh nghiệp sẽ cho kết quả ước lượng phù hợp nhất (Gorg và Strobl, 2001; Gorg và Greenaway, 2004).
Các nghiên cứu gần đây nhất ở Việt Nam về tác động lan tỏa năng suất từ FDI (ví dụ, Nguyen Khắc Minh & Nguyễn Việt Hùng, 2012; Nguyễn Trọng Hoài & Phạm Thế Anh, 2016; Bulent & ctg, 2015) cũng tiếp cận phương pháp dữ liệu bảng ở cấp doanh nghiệp, và phần lớn trong số đó đều chung nhận định có dấu hiệu tích cực. Lan tỏa công nghệ giữa các vùng, giữa các ngành Lan tỏa công nghệ trước hết sẽ tác động đến các doanh nghiệp ở gần sau mới lan dần đến các doanh nghiệp ở xa hơn. Nếu tác động lan tỏa chỉ được tiếp nhận bởi các doanh nghiệp ở gần thì tác động lan tỏa có quy mô “cục bộ”. Nếu lợi ích lan tỏa đến các khu vực ở các khác nước thì tác động lan tỏa có quy mô “quốc gia”.
Theo Aitken & ctg, (1999), yếu tố địa lý là một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng có liên quan đến kỹ thuật đo lường mức độ ảnh hưởng từ hoạt động FDI ở tất cả các khu vực. Ngoài sự khác biệt giữa lan tỏa địa phương và quốc gia và yếu tổ địa lý, còn có sự khác biệt giữa lan tỏa năng suất nội ngành và liên ngành. Nếu các lợi ích công nghệ được các doanh nghiệp trong cùng ngành nhận được thì gọi đó là sự lan tỏa theo chiều ngang. Tuy nhiên, nếu các doanh nghiệp ở khác ngành nhận được lợi ích về công nghệ thì sự lan tỏa đó gọi là lan tỏa theo chiều doc.