Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận về nông nghiệp đô thị a) Nông nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất xuất hiện sớm nhất của xã hội loài người. Từ khi ra đời cho đến nay, nông nghiệp luôn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế nói chung và đảm bảo sự tồn tại của loài người nói riêng.Engels đã khẳng định: “Nông nghiệp là ngành có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ thế giới cổ đại và hiện nay nông nghiệp lại càng có ý nghĩa như thế” (trích theo Vũ Thị Mai Hương, 2014). Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là sự hợp thành của trồng trọt và chăn nuôi, còn theo nghĩa rộng bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp.
Tựu chung lại, toàn bộ nền kinh tế có thể chia làm ba khu vực, trong đó khu vực một bao gồm cả nông – lâm –ngư nghiệp. b) Nông nghiệp đô thị Thuật từ NNĐT được sử dụng nhằm để phân biệt với nông nghiệp nông thôn truyền thống. Có thể nói rằng, NNĐT là một bộ phận của nông nghiệp nói chung, nhưng là bộ phận đặc thù, khác biệt với mảng chủ lực của nông nghiệp ở nông thôn bởi các điều kiện phát triển, các chức năng riêng có và là thành tố quan trọng của ĐTH, liên quan mật thiết đến các vấn đề của xây dựng NTM ở các địa bànven đô. Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về NNĐT: Theo Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc (FAO, 1996) và Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP, 1999): NNĐT là những hoạt động sản xuất nông nghiệp ở trung tâm, ngoại ô và khu vực lân cận đô thị, có chức năng trồng trọt, chăn nuôi, chế biến và phân phối các loại thực phẩm, lương thực và các sản phẩm khác, sử dụng các nguồn lực tự nhiên và nhân văn, các sản phẩm cùng các dịch vụ ở đô thị và vùng lân cận đô thị để cung cấp trở lại cho đô thị các sảnphẩm m 5 và dịch vụ cao cấp (trích theo Vũ Thị Mai Hương, 2014).
NNĐT bao gồm nông nghiệp nội thị và nông nghiệp ngoại thị với các hoạt động chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản. Đây là quan niệm được nhiều nhà nghiên cứu và nhiều tổ chức trên thế giới cũng như ở Việt Nam công nhận và đánh giá cao. Theo Hội Làm vườn Việt Nam (trích theo Lê Văn Trưởng, 2018): NNĐT là sản xuất cây trồng và vật nuôi trong và quanh đô thị. Quá trình sản xuất diễn ra trong đô thị và tác động qua lại với hệ sinh thái đô thị như: người dân đô thị trở thành người sản xuất, sử dụng nguồn nguyên liệu đặc trưng của đô thị (rác thải hữu cơ ủ làm phân, nước thải để tới cây,…), gắn kết với người tiêu dùng đô thị, tác động trực tiếp đến hệ sinh thái đô thị, trở thành một phần của chuỗi thực phẩm đô thị, cạnh tranh đất và các hoạt động khác của đô thị, bị ảnh hưởng bởi chủ trương và kết hoạch phát triển đô thị.
Trung tâm Nghiên cứu Đất – Phân bón – Môi trường phía Nam: NNĐT gồm nông nghiệp nội thị và ven đô. Trong đó, nông nghiệp nội thị là việc sử dụng các diện tích nhỏ, các lô đất trống, sân vườn, thảm cỏ, ban công, sân thượng,…trong các thành phố lớn để trồng cây hoặc chăn nuôi gia súc nhỏ nhằm tự tiêuhoặc bán cho các chợ lân cận; nông nghiệp ven đô thị là ứng dụng lên các đơn vị nông nghiệp ở gần thành phố sản xuất theo hình thức thâm canh như rau, hoa quả, thịt trứng, sữa,… sau đó thương mại hóa toàn bộ hoặc một phần sản phẩm (trích theo Lê Văn Trưởng, 2018). Theo Dương Văn Sơn (2012): NNĐT được sản xuất trên phạm vi lãnh thổ gồm cả ở khu vực nội thị - được quản lý bởi UBND phường, thị trấn và khu vực ven đô thị (hay còn gọi ngoại thị) - được quản lý bởi UBND xã. NNĐT chủ yếu không phải là sản xuất lương thực, mà là sản xuất thực phẩm, các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao và sinh vật cảnh với nhiều loại hình nông nghiệp và sản phẩm, bao gồm sản xuất rau vườn chậu, sản xuất rau mầm, sinh vật cảnh (cây, cá, chim) và bonsai, sản xuất rau quả, trang trại chăn nuôi, hoa và cây bóng mát, sản xuất nấm, nông nghiệp công nghệ cao,… m 6 Theo UNDP (trích theo Bạch Quốc Khang, 2020): NNĐT (bao gồm cả nông nghiệp cận đô thị) là một ngành công nghiệp sản xuất, chế biến và buôn bán thực phẩm, chất đốt dựa trên các vùng đất, mặt nước nằm xen kẽ, rải rác trong các đô thị và vùng ngoại ô.
Hình ảnh rõ nét của NNĐT là trồng cây, rau, quả trong các khu dân cư tập trung (sân thượng, ban công, tầng ngầm,…) ở nội thành và ngoại ô. Như vậy, khái niệm NNĐT, đã có nhiều tổ chức, các nhà nghiên cứu, quy hoạch đề cập đến trên nhiều góc độ khác nhau, chung quy lại có thể hiểu NNĐT là quá trình sản xuất sản phẩm nông nghiệp từ nguyên liệu, bảo quản, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu, thủy văn, bảo đảm sự cân bằng sinh thái, tạo hiệu quả sản xuất, hiệu quả kinh tế, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng môi trường. Quá trình đó được diễn ra ở các vùng xen kẽ hoặc tập trung ở đô thị bao gồm nội đô, giáp ranh và ngoại ô. Trong phạm vi đề tài luận văn này, chúng ta có thể hiểu phạm vi không gian của NNĐT bao gồm nông nghiệp nội thị và nông nghiệp ngoại thị trên địa bàn thành phố Sông Công.
Trong đó nông nghiệp nội thị được hiểu là nông nghiệp có địa bàn sản xuất tại khu vựcđô thị, địa bàn do cấp quản lý cơ sở là UBND các phường của thành phố. Còn nông nghiệp ngoại thị được hiểu là nông nghiệp có địa bàn sản xuất ở các xã trên địa bàn thành phố Sông Công. Kế thừa các quan điểm cả trong và ngoài nước trên, tác giả quan niệm về NNĐT như sau: NNĐT là những hoạt động sản xuất nông nghiệp cả ở trung tâm, ngoại ô và khu vực lân cận đô thị; bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, nuôitrồng thủy sản và lâm nghiệp trên cơ sở sử dụng hợp lí các nguồn lực tự nhiên và KT-XH để cung cấp các sản phẩm và dịch vụ nông nghiệp cho cư dân đô thị vàphục vụ cả cho xuất khẩu. Bên cạnh đó, việc phát triển NNĐT là chìa khóa mở ra con đường phát triển bền vững thực chất cho các đô thị sinh thái trong tương lai,… là yếu tố chính thúc đẩy mô hình NNĐT phát triển.
Từ các thực tế rất thiết thực đó có thể khẳng định phát triển NNĐT, nhất là nông nghiệp ven đô có vai trò rất quan trọng trong việc m 7 tham gia giải quyết các vấn đề khó khăn của các đô thị trong quá trình ĐTH. Đây là một hướng đi quan trọng cho các đô thị tại các tỉnh miền núi, biên giới, nơi có điều kiện giao lưu với Trung Quốc như thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên trong nghiên cứu này, cũng như các thành phố khác của nước ta trong hiện nay và cả trong tương lai. c) Đô thị hóa ĐTH theo tiếng Anh là Urbanization, urban là “thành phố” là khái niệm đa chiều, đa diện về KT - XH và môi trường, là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm quần cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống (trích theo Ngân hàng Phát triển Châu Á, 2001). ĐTH là một phạm trù KT – XH, là quá trình chuyển hóa và vận động phức tạp mang tính quy luật, là quá trình phổ biến diễn ra trên quy mô toàn cầu, mang tính chất đặc chung nhất của sự phát triển KT - XH trong thời hiện đại.
Theo nghĩa hẹp: “ĐTH là quá trình chuyển biến nông thôn thành đô thị”, sự phát triển thành phố và việc nâng cao vai trò của nó trong đời sống KT-XH. Tuy nhiên không nên đồng nhất ĐTH với sự tăng số lượng các đô thị, tăng quy mô dân số đô thị, cũng như ảnh hưởng của nó đối với các vùng xung quanh mà còn phải chú ý đến những thay đổi mang tính chất đa dạng về mặt KT-XH của quá trình này gắn liền với sự phát triển công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ và sự phân bố dân cư, phân bố sản xuất. Như vậy có thể hiểu: ĐTH đã chuyển hóa sự phân bố dân cư phân tán ở các vùng nông thôn sang dạng phân bố dân cư tập trung ở các đô thị gắn với các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp, làm cho vai trò của các ngành dịch vụ tăng lên, cùng các hoạt động của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đối với nền KT-XH thế giới làm cho tỉ lệ dân cư sống trong các đô thị ngày càng tăng lên. ĐTH cũng không ngừng làm thay đổi cách ứng xử và thái độ của con người đối với tự nhiên, cũng như làm thay đổi lối sống, cách sinh hoạt của chính bản thân con người trong đô thị.
m 8 Theo nghĩa rộng: ĐTH được hiểu là: (1) Quá trình tập trung dân cư vào các đô thị (sự chuyển cư vào các đô thị) hình thành và phát triển đô thị mới; (2) Quá trình tập trung dân cư ngày càng đông vào các đô thị lớn; (3) Quá trình mở rộng không ngừng diện tích đô thị theo chiều rộng, chiều cao và chiều sâu; (4) Quá trình phổ biến lối sống đô thị; và (5) Quá trình HĐH cơ sở vật chất, hạ tầng kĩ thuật đô thị (trích theo Ngân hàng Phát triển Châu Á, 2001). Hiện nay, quá trình ĐTH trên thế giới và Việt Nam đang diễn ra rất nhanh, diện tích đất NNĐT đang bị thu hẹp dần do sự cạnh tranh sử dụng đất để xây nhà hay nhiều mục đích khác, nhưng nhu cầu cung cấp lương thực, thực phẩm ngày càng tăng với số lượng lớn. Trong bối cảnh quá trình ĐTH đang diễn ra hết sức nhanh và mạnh, thì việc quan tâm phát triển NNĐT được xem như một hướng đi tối ưu và có tính khả thi cao giúp giải quyết nhu cầu lương thực, thực phẩm chất lượng cao.