CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUAN VE PHAT TRIEN NGUON NH LUC 1. TONG QUAN VE PHAT TRIEN NGUON NHAN LUC 1. Một số khái niệm a. Nhân lực Nhân lực chỉ là sức người, bao hàm cá sức mạnh vật chất và sức mạnh.
tỉnh thần, cả ở mặt zả/ và mặt đức [1, tr.544], Có ý kiến cho rằng nhân lực thuần túy là sức lực người lao động thẻ hiện trên lao động cơ bắp, có ý kiến hiểu nhân lực chỉ người lao động trực tiếp bằng sức lực. Từ đó, hiểu nhân lực là toàn bộ đội ngũ người lao động hiện có trong một tô chức. Cách đẻ cập như thế phần nào mới chỉ phản ánh được tính hình thức của vấn dé nhưng hoàn toàn phiến diện và không mang tính tổng quát. Vì vậy, đê có cách hiểu đúng và phản ánh rõ bản chất hoạt động lao động của lực lượng nhân viên trong tổ chức, nhân lực phải được xem là tổng.
hợp các khả năng về thê lực và trí lực của con người [25, tr. Như vậy, nhân lực là nguồn lực của mỗi con người gôm thể lực, trí lực và nhân cách của họ được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất b. Nguôn nhân lực Nguồn nhân lực là khái niệm có nội hàm phong phú hơn khái niệm nhân lực. Nguồn nhân lực là tổng thể những yếu tổ về thể chất và tỉnh thần (phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, học vấn, nghề nghiệp, vị thế xã hội,.
thành năng /ực của con người với tư cách chủ thễ hoạt động có thễ huy động, khai thác đề thúc day sự phát triển xã hội. Nguồn nhân lực nói lên tiềm nang của con người cả về lượng về chất [I, tr.544] Nguồn nhân lực là tổng hợp những năng lực, sức mạnh hiện có thực tế và dưới dạng tiềm năng của lực lượng con người, mà trước hết, đó là lực lượng. 10 lao động đang và sẵn sàng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước [19, tr. Nguồn nhân lực là lực lượng lao động với thé luc, tri tuệ, đạo đức, năng.
lực, kỹ năng,. hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng tham gia. vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước [27, tr. Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực cần được hiểu là dân số và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động.
Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó” [17]- Các quan niệm về nguồn nhân lực tuy khác nhau ở cách tiếp cận nhưng đều có điểm chung khi cho rằng đó là khái niệm về số dân cư, cơ cấu dân cư và chất lượng dân cư của một đất nước với tất cả các đặc m về thể chất, tỉnh thần, sức khoẻ, trí tuệ, năng lực, phâm chất và lịch sử của dân tộc đó. Dựa vào những quan niệm trên ta thấy rằng, nguồn nhân lực trong một tô chức sẽ bao gồm các mặt cơ bản sau: (1) Về số lượng của nhân viên trong tổ chức: Thể hiện quy mô của tô chức, số lượng nhân viên càng đông, quy mô tổ chức càng lớn và ngược lại số lượng ít, quy mô tổ chức nhỏ. (2) Về cơ cấu nhân viên trong tổ chức: Thể hiện tính đa dang cơ cấu nhân viên trong tô chức qua trình độ, độ tuổi, giới tính, học hàm, học vị. Tinh đa dạng cơ cấu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và sức mạnh của nguồn nhân lực trong tô chức.
(3) Lẻ chất lượng nhân viên trong tổ chức: Chất lượng nhân viên được hiểu là năng lực của họ trong công việc và cuộc sống. Năng lực của nhân viên thông thường được đánh giá qua các tiêu chí sau: trí lực, thể lực và đạo đức Tóm lại, có thể hiểu: Nguồn nhân lực là tổng thể những tiểm năng của 1 con người (trước hết và cơ bản nhất là tiêm năng lao động), gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu KT - XH nhất định. € Phát triển nguồn nhân lực * Phát triển Phát triển là sự vận động theo chiều hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn. giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn [I, tr.
Trong tô chức, phát triên là quá trình lâu dài nhằm nâng cao năng lực và động cơ của nhân viên để biến họ thành những thành viên tương lai quý báu của tổ chức. Phát triển không chỉ gồm đào tạo mà còn cả sự nghiệp và những. kinh nghiệm khác nữa. * Phát triển nguôn nhân lực Cho đến nay, do xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau nên vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về phát triên nguồn nhân lực: Theo UNESCO và một số nhà kinh tế sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp là sự phát triển kỹ năng lao động và sự đáp ứng yêu cầu của việc làm.
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng hơn, không chỉ là sự lành nghề của dân cư hoặc bao gồm ca van dé đào tạo nói chung mà còn là phát triển năng lực đó của con người đề tiền tới có việc làm hiệu quả, cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Theo Liên hiệp quốc (ƯN) thì khái niệm phát triển nguồn nhân lực bao gém giéo dục, đào tạo nghề nghiệp và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đây phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống. Tác giả Christian Batal thì cho rằng phát triển nguồn nhân lực là phát triển về năng lực và động cơ, năng lực (theo cách hiểu ngày nay) là một khái niệm mới, dần thay thế khái niệm “nghiệp vụ chuyên môn”. Trong khi khái 12 niệm “nghiệp vụ chuyên môn” tương đối “tĩnh” và mang tính tập thê, thì khái niệm năng lực mang tính linh hoạt hơn, là một công cụ sắc bén, nó phù hợp.
hơn với hoạt động quản trị nguồn nhân lực trong một thế biển động. Năng lực, xét theo phạm trù thường dùng nhất, năng lực làm việc tương ứng với “kiến thức”, “kỹ năng” và “hành vi thái độ” cần huy động dé có thể thực hiện đúng đắn các hoạt động riêng của từng vị trí làm việc. Harbison và Myer thì cho rằng phát triển nguồn nhân lực là quá trình nâng cao kiến thức, kỹ năng và năng lực của tất cả mọi người trong xã hội. Ở nước ta cũng có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển nguồn nhân lực: - Theo GS.
Pham Minh Hạc: “Phát triển nguồn nhân lực được hiểu về cơ bản là tăng giá trị cho con người, trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hỗn, thể lực,. làm cho con người trở thành những người lao động có năng lực và phẩm chất mới và cả đáp ứng được yêu cầu to lớn của sự phát triển kinh tế - xã hội, của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước” [I7]. Nguyễn Ngọc Quân thì: “Phát triển nguồn nhân lực (theo nghĩa rộng) là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đôi hành vĩ nghề nghiệp của người lao động” [33]. Dưới góc độ vĩ mô, phát triển nguồn nhân lực là tông thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực (trí tuệ, thê chất và phâm chất tâm lý xã hội), nhằm.
đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế — xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Có thể hiểu theo góc độ vi mô, phát triển nguồn nhân lực thực chất là tạo ra sự thay đổi về chất lượng của nguồn nhân lực theo hướng tiến bộ. Nói cách khác, phát triển nguồn nhân lực là làm gia tăng đáng kẻ chất lượng của nguồn 13 nhân lực, chất lượng này cần được hiểu gồm năng lực và động cơ người lao. động để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của tô chức.
Phát triển nguồn nhân lực là khái niệm được hiểu ở góc độ hoàn thiện và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và điều chỉnh số lượng nguồn nhân lực hợp lý. Như vậy, có thể hiểu khái niệm phát triển nguồn nhân lực như sau: Phát triển nguồn nhân lực là tông thê các cơ chế chính sách và biện pháp hoàn thiện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (trí tuệ, trình độ, thể chất, phẩm chất và tâm lý xã hội) và điều chỉnh hợp lý về số lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi nguồn nhân lực. 4L Năng lực của người lao động Năng lực của người lao động là sự tổng hòa của các yếu tố kiến thức, kỹ năng, hành vi và thái độ góp phần tạo ra tính hiệu quả trong công việc của mỗi người. Nang lực mỗi người không giống nhau, nó được hình thành trong quá trình phát triển của con người trong xã hội.
Nghĩa là có bao nhiêu hình thức hoạt động của con người thì có bấy nhiêu loại năng lực. Trong mỗi chuyên ngành còn biểu hiện năng lực ở mỗi góc độ đảm nhiệm khác nhau. Biết được khả năng của người đó, lãnh đạo sẽ giao nhiệm vụ tương xứng để trong một thời gian nhất định như nhau, họ sẽ hoàn thành công việc tốt hơn những người khác. Việc năng lực có biểu hiện và phát huy được hay không phụ thuộc chủ yếu vào người lãnh đạo, bỡi nếu người lãnh đạo không phát hiện ra và tạo điều kiện cho mầm mồng đó phát triển thì sự thui chột khả năng của người đó là điều tất Giữa hiệu lực, năng lực và hiệu quả có mối quan hệ: - Một tổ hức phát triển phải đề cao hiệu lực.
~ Một tổ chức phát triển phải đề cao hiệu quả. 14 ~ Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả phải đây mạnh xây dựng năng lực người lao động - Để đánh giá năng lực cần dựa vào những tiêu chí, thước đo cụ thể phản ánh hiệu lực, hiệu quả làm việc của người lao động [20] e. Động lực thúc đây người lao động Động lực là cái có tác dụng chỉ phối, thúc đây con người suy nghĩ và hành động. Đó chính là sức mạnh thúc đây con người hoạt động, chi đạo hành vi và làm gia tăng lòng quyết tâm bền bỉ giành lấy mục tiêu để đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu cá nhân [44, tr.