mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài chuyển tải thành ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển nguồn nhân lực trong các tổ chức. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực hành chính cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực hành chính cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình khoa học, các nghiên cứu, hội thảo, bài viết về phát triển nguồn nhân lực hành chính, đáng chú ý là một số công trình sau: - Luận án Tiến sỹ kinh tế: "Phát triển nguồn nhân lực trong doanh Luan van 4 nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế" của Lê Thị Mỹ Linh (2009) đã khái quát hoá những vấn đề lý luận về phát triển nguồn nhân lực nói chung và phát triển nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng.
Vận dụng lý luận đó vào phân tích đánh giá thực tiễn để hiểu rõ những mặt đƣợc và chƣa đƣợc về phát triển nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam. Đề xuất những quan điểm, giải pháp để hoàn thiện phát triển nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa. - Luận văn Thạc sỹ kinh tế: "Đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức hành chính cấp phƣờng (xã) thành phố Quy Nhơn" của Trần Văn Thanh (2012) đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về đào tạo nguồn nhân lực đối với cấp phƣờng (xã). Phân tích thực trạng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức hành chính cấp phƣờng (xã) thành phố Quy Nhơn thời gian qua.
Đề xuất giải pháp đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức hành chính cấp phƣờng (xã) thành phố Quy Nhơn trong thời gian đến. - Luận văn Thạc sỹ kinh tế: "Phát triển nguồn nhân lực hành chính cấp phƣờng tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng" của Nguyễn Thanh Thy (2012) đã làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến việc phát triển nguồn nhân lực trong các tổ chức nói chung và trong khu vực hành chính cấp phƣờng nói riêng. Phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực hành chính cấp phƣờng tại quận Hải Châu. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp để đẩy mạnh việc phát triển đội ngũ cán bộ, công chức trong khu vực hành chính cấp phƣờng tại thành phố Đà Nẵng thời gian tới.
- Luận văn Thạc sỹ kinh tế: "Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực quản lý cấp xã trên đại bàn huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định" của Cao Thanh Hƣơng (2011) đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến đào tạo, phát triển nguồn nhân lực trong các tổ chức. Phân tích thực trạng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực quản lý cấp xã trên địa bàn huyện Hoài Nhơn. Đề xuất Luan van 5 giải pháp để hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực quản lý cấp xã trên địa bàn huyện trong thời gian tới. - Luận văn Thạc sỹ kinh tế: "Giải pháp nhằm thu hút nguồn nhân lực chất lƣợng cao của tỉnh Quảng Ngãi" của Bùi Văn Dũng (2011) đã nêu ra đƣợc tổng quan lý luận cơ bản về nguồn nhân lực chất lƣợng cao và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực chất lƣợng cao của tỉnh Quảng Ngãi, từ đó nghiên cứu và đề xuất các giải pháp thu hút nguồn nhân lực chất lƣợng cao của tỉnh Quảng Ngãi.
- Luận văn Thạc sỹ kinh tế: "Giải pháp phát triển nguồn nhân lực trên địa bàn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi" của Nguyễn Đức Đồng (2011) đã tập hợp các lý luận, chính sách làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đồng thời phát hiện ra đƣợc những tồn tại bất hợp lý và những nguyên nhân làm ảnh hƣởng đến sự phát triển nguồn nhân lực tại huyện Ba Tơ, từ đó xác lập đƣợc hệ thống các giải pháp ở góc độ tầm vĩ mô nhằm đƣa ra các giải pháp phát triển trong tƣơng lai, đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phƣơng. - Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Quảng Ninh đến năm 2020 nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh, các cơ hội phát triển, hạn chế thách thức, đồng thời góp phần thực hiện những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong giai đoạn hiện nay và tầm nhìn đến năm 2020. - Niên giám Thống kê huyện Quảng Ninh năm 2008, 2009, 2010, 2011, 2012 phản ánh một cách khái quát những thông tin cơ bản về thực trạng kinh tế - xã hội của huyện Quảng Ninh, đáp ứng yêu cầu sử dụng thông tin cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo, nghiên cứu, hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội cho những năm tới của các cấp, các ngành. - Báo cáo tổng hợp tình hình cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn của huyện Quảng Ninh trong những năm 2008 - 2012.
Trong báo cáo hàng năm đã thống kê khá đầy đủ tình hình biên chế, cơ cấu, năng lực và động lực thúc Luan van 6 đẩy của nguồn nhân lực hành chính cấp xã, thị trấn huyện Quảng Ninh. Qua đó giúp cho các lãnh đạo, nhà quản lý huyện Quảng Ninh nắm bắt tình hình thực tế để có những phƣơng án đáp ứng nhu cầu công việc nhằm hoàn thành tốt các công việc đƣợc giao. - Báo cáo tổng hợp tình hình đào tạo, bồi dƣỡng lý luận chính trị của Trung tâm Bồi dƣỡng chính trị huyện Quảng Ninh trong những năm qua. Qua đó giúp cho các lãnh đạo, nhà quản lý huyện Quảng Ninh nắm bắt tình hình thực tế để có những phƣơng án đào tạo, bồi dƣỡng nâng cao trình độ, kỹ năng cho cán bộ, công chức trong thới gian đến.
Tại huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình đến nay vẫn chƣa có một công trình nghiên cứu nào về phát triển nguồn nhân lực hành chính các xã, thị trấn để hệ thống hóa lý luận và thực trạng dƣới góc độ kinh tế phát triển. Tất cả những công trình nói trên, ở những mức độ khác nhau đã giúp luận văn có một số tƣ liệu và kiến thức cần thiết để có thể hình thành những hiểu biết chung, tạo điều kiện cho việc tiếp cận và đi sâu nghiên cứu vấn đề "Phát triển nguồn nhân lực hành chính cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình". Luan van 7 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC TỔ CHỨC 1. TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1.
Một số khái niệm cơ bản a. Nhân lực Nhân lực là nguồn lực của mỗi ngƣời bao gồm cả thể lực và trí lực. Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể và nó phụ thuộc vào sức vóc và tình trạng sức khỏe của từng ngƣời, mức sống, y tế, chế độ làm việc, nghỉ ngơi. Trí lực là chỉ sự suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng nhƣ quan điểm, lòng tin.
của mỗi ngƣời.Mác: nhân lực là toàn bộ những năng lực thể chất (thể lực) và tinh thần (trí lực) tồn tại trong một cơ thể, trong một con ngƣời đang sống và đƣợc ngƣời đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó. Ngày nay không chỉ dừng lại ở hai chỉ tiêu trên mà ngƣời ta còn quan tâm nhiều đến nhân cách của con ngƣời, đó là tính năng động, sáng tạo, thái độ làm việc, lòng tự tin, khả năng thích ứng, dễ chuyển đổi, làm việc có tinh thần trách nhiệm với các cá nhân, nhóm và tổ chức. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: nhân lực là nhân cách, thể chất, phẩm chất, năng lực của con ngƣời nhƣng không phải có sẵn mà là do tu dƣỡng, rèn luyện, qua quá trình đƣợc giáo dục và tự giáo dục. Từ điển tiếng Việt, nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, 2009 cho rằng: “Nhân lực là sức ngƣời về mặt dùng trong lao động sản xuất”.
Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực trong thân thể của một con ngƣời. Nhân lực của một tổ chức là toàn bộ những khả năng lao động mà tổ chức đó cần và huy động đƣợc cho việc thực hiện hoàn thành những nhiệm vụ Luan van 8 trƣớc mắt và lâu dài của tổ chức. Nhƣ vậy, có thể hiểu một cách khái quát, nhân lực là nguồn lực bao gồm thể lực, trí lực và nhân cách của mỗi ngƣời, nó phản ánh sự tham gia và đóng góp của con ngƣời vào hoạt động sản xuất nhằm sản xuất ra giá trị sử dụng nào đó cho con ngƣời. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là khái niệm đƣợc hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con ngƣời với tƣ cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển.
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc: "Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con ngƣời hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng". Ngân hàng thế giới cho rằng: "Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con ngƣời bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân". Theo tổ chức Lao động quốc tế thì: "Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những ngƣời trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động".
Hai định nghĩa này gắn nguồn nhân lực với lực lƣợng tham gia lao động theo nghĩa hẹp. Nhƣng nguồn nhân lực có thể hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm toàn bộ dân cƣ của một quốc gia, không những ngƣời lao động, mà cả học sinh, sinh viên, trẻ em, ngƣời già, nghĩa là những ngƣời đang lao động, sẽ tham gia lao động và đã hết tuổi lao động. Theo David Begg: "Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con ngƣời tích luỹ đƣợc, nó đƣợc đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tƣơng lai. Cũng giống nhƣ nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tƣ trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tƣơng lai".
Theo giáo trình kinh tế nguồn nhân lực của trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân do PGS. Trần Xuân Cầu và PGS. Mai Quốc Chánh chủ biên, Luan van 9 xuất bản năm 2008 thì: "Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cƣ, khả năng lao động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng nhƣ trong tƣơng lai.