Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình đổi mới và hội nhập từ năm 1997, thành phố Đà Nẵng đã đạt được bước phát triển vượt bậc với tổng sản phẩm nội địa (GDP) tăng từ 2.589,8 tỷ đồng lên 9.236 tỷ đồng vào năm 2009, ghi nhận tốc độ tăng trưởng bình quân ấn tượng 11,1%/năm, cao hơn mức bình quân 7,2%/năm của cả nước. Mặc dù vậy, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại địa phương vẫn gặp nhiều rào cản nội tại: trình độ lực lượng sản xuất chưa cao, cơ cấu nguồn nhân lực chất lượng chưa đáp ứng kịp nhu cầu phát triển và thiếu vắng các sản phẩm công nghiệp mũi nhọn có quy mô lớn cùng năng lực cạnh tranh toàn cầu.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về phát triển lực lượng sản xuất, phân tích thực trạng vận động của các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất tại Đà Nẵng trong giai đoạn 1997 - 2011, từ đó xác lập hệ thống giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2020. Không gian nghiên cứu bao quát toàn địa bàn thành phố Đà Nẵng gồm 7 quận, huyện với trọng tâm là các khu công nghiệp và ngành kinh tế then chốt.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ vững chắc để định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mô hình "dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp", tạo động lực để kim ngạch xuất khẩu bứt phá đạt 1.436 triệu USD vào năm 2011 và thu hút 180 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài. Kết quả nghiên cứu đóng góp thiết thực vào mục tiêu đưa Đà Nẵng trở thành trung tâm kinh tế - xã hội lớn của miền Trung và sớm hoàn thành các tiêu chí của một đô thị công nghiệp văn minh, hiện đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng sâu sắc học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của triết học Mác - Lênin, trọng tâm là quy luật biện chứng về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Khi lực lượng sản xuất phát triển lên trình độ mới, quan hệ sản xuất phải được điều chỉnh tương ứng nhằm mở đường giải phóng năng lực sản xuất xã hội. Nghiên cứu quán triệt luận điểm của Lênin khẳng định người lao động là “lực lượng sản xuất hàng đầu”, đồng thời làm sáng tỏ quan điểm của C. Mác xem khoa học là “đòn bẩy mạnh mẽ của lịch sử”, giữ vai trò lực lượng sản xuất trực tiếp trong điều kiện kinh tế tri thức.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Lực lượng sản xuất (thể thống nhất hữu cơ giữa người lao động và tư liệu sản xuất), Tư liệu lao động (hệ thống công cụ và phương tiện truyền dẫn sức lao động), Đối tượng lao động, Công nghiệp hóa - hiện đại hóa định hướng xã hội chủ nghĩa và Kinh tế tri thức. Mô hình nghiên cứu đặt sự phát triển của lực lượng sản xuất trong mối quan hệ đa chiều với tiến bộ khoa học công nghệ, biến đổi nhân khẩu học và vị thế địa kinh tế của hành lang kinh tế Đông - Tây.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp phân tích lôgíc và lịch sử. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám thống kê thành phố Đà Nẵng, Cổng thông tin điện tử thành phố, các báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội giai đoạn 1997 - 2011 và các văn kiện chỉ đạo của Thành ủy Đà Nẵng.

Về quy mô và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu thực hiện khảo sát toàn bộ tổng thể dữ liệu thống kê của địa phương, bao quát 655.026 người trong độ tuổi lao động, mẫu thống kê chi tiết trên 457.500 lao động có việc làm thường xuyên và 180 dự án FDI trên địa bàn. Việc lựa chọn phương pháp mẫu bao quát toàn bộ báo cáo chuyên ngành hành chính bảo đảm tính đại diện tuyệt đối cho không gian 6 khu công nghiệp tập trung với diện tích 1.451 ha. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định lượng kết hợp tổng hợp định tính triết học là để vừa lượng hóa chính xác các chỉ số tăng trưởng, vừa làm rõ bản chất quy luật nội tại, giải quyết các mâu thuẫn khách quan giữa trình độ công cụ lao động và năng lực thực tiễn của người lao động.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, sản xuất công nghiệp thành phố đạt mức tăng trưởng khá với giá trị sản xuất năm 2010 đạt 12.431,33 tỷ đồng, tăng 14,35% so với năm 2009. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) thể hiện sức bứt phá mạnh mẽ khi đạt 2.605,89 tỷ đồng, tăng 37,69% so với cùng kỳ, khẳng định vai trò đòn bẩy quan trọng của dòng vốn ngoại lực trong việc mở rộng năng lực sản xuất.

Thứ hai, cơ cấu lực lượng lao động bộc lộ khoảng cách lớn về trình độ tay nghề kỹ thuật. Trong tổng số 457.500 lao động có việc làm năm 2011, trình độ đại học - cao đẳng đạt 88.000 người (chiếm 19,2%), công nhân kỹ thuật đạt 39.950 người (chiếm 8,7%), trong khi lực lượng lao động phổ thông chưa qua đào tạo chiếm tới 325.490 người (tương đương 71,1%). Tỷ lệ thất nghiệp duy trì ở mức 4,86%.

Thứ ba, hệ thống tư liệu sản xuất được mở rộng nhanh chóng với 6 khu công nghiệp tập trung có diện tích 1.451 ha và 180 dự án FDI lũy kế với tổng vốn đăng ký 2,79 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu năm 2011 đạt 1.436 triệu USD, tăng gần gấp 3 lần so với năm 2005 (500 triệu USD), vươn tới thị trường 93 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Thứ tư, cơ cấu nội ngành công nghiệp còn nghiêng nặng về chế biến truyền thống. Ngành chế biến thực phẩm, đồ uống chiếm gần 30% giá trị sản xuất toàn ngành, trong khi ngành cơ khí luyện kim có hơn 700 cơ sở nhưng chỉ có hơn 20 đơn vị đạt quy mô công nghiệp thực thụ, số còn lại sản xuất thủ công nhỏ lẻ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của các hạn chế xuất phát từ xuất phát điểm kinh tế thấp sau chia tách tỉnh năm 1997, nguồn vốn đầu tư cho đổi mới công nghệ cao còn hạn hẹp và hệ thống giáo dục nghề nghiệp chưa theo kịp tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Các phát hiện thực nghiệm có thể được mô tả trực quan thông qua biểu đồ cột kép thể hiện tương quan giữa kim ngạch xuất khẩu (1.436 triệu USD) và nhập khẩu (860 triệu USD) năm 2011, kết hợp cùng bảng ma trận phân loại trình độ chuyên môn của 457.500 lao động để làm nổi bật khoảng trống kỹ năng của nguồn nhân lực.

So sánh với các nghiên cứu phát triển kinh tế vùng Duyên hải miền Trung, luận văn chỉ rõ sự phát triển lực lượng sản xuất tại Đà Nẵng không thể chỉ dừng lại ở mở rộng diện tích khu công nghiệp hay gia tăng số lượng dự án, mà đòi hỏi phải kết hợp đồng bộ giữa nâng cấp công nghệ và đào tạo con người. Đây là điều kiện tiên quyết để chuyển dịch mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao: Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng các trường đại học và hơn 30 cơ sở dạy nghề triển khai chương trình đào tạo chuyên sâu, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo kỹ thuật, đại học từ mức 28,9% lên trên 55% vào năm 2020. Trọng tâm là đào tạo kỹ sư công nghệ thông tin, nhân lực logistics và công nhân kỹ thuật bậc cao trong giai đoạn 2014 - 2020.

Hai là, hiện đại hóa tư liệu sản xuất và công nghệ chế tạo: Ban Quản lý các Khu công nghiệp cùng Sở Khoa học và Công nghệ hỗ trợ đổi mới thiết bị cho hơn 700 cơ sở cơ khí, đẩy mạnh ứng dụng máy công cụ điều khiển số CNC và dây chuyền tự động hóa, bảo đảm giá trị sản xuất công nghiệp tăng trưởng bình quân trên 15%/năm từ năm 2014 đến 2018.

Ba là, tái cơ cấu kinh tế biển và phát triển chuỗi dịch vụ hiện đại: Sở Công Thương phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đầu tư hiện đại hóa đội tàu đánh bắt xa bờ, nâng sản lượng khai thác hải sản đạt 60.000 - 70.000 tấn/năm. Đồng thời phát triển mạng lưới thương mại và dịch vụ cảng biển chiếm trên 30% GDP khối dịch vụ đến năm 2020.

Bốn là, hoàn thiện thể chế quản lý và nâng cao hiệu lực chính quyền: Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng đẩy mạnh cải cách hành chính, đặt mục tiêu thu hút thêm 1,5 - 2 tỷ USD vốn FDI có chọn lọc trong giai đoạn 2014 - 2020, kiên quyết từ chối các dự án tiêu tốn năng lượng hoặc có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân thành phố, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương sử dụng các phân tích thực trạng tăng trưởng GDP và hệ thống 6 khu công nghiệp để xây dựng quy hoạch kinh tế - xã hội trung hạn.

Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Triết học, Kinh tế học: Khai thác khung lý luận Mác - Lênin về phát triển lực lượng sản xuất và case study thực tiễn tại đô thị miền Trung để phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu chuyên sâu.

Lãnh đạo doanh nghiệp và các nhà đầu tư công nghiệp: Các hiệp hội doanh nghiệp tham khảo cơ cấu 457.500 lao động để hoạch định chiến lược tuyển dụng nhân sự, đầu tư đổi mới máy móc và chuyển giao công nghệ sản xuất hiện đại.

Các viện nghiên cứu chiến lược vùng Duyên hải miền Trung: Ứng dụng các phân tích về hành lang kinh tế Đông - Tây nhằm xây dựng chính sách liên kết chuỗi sản xuất công nghiệp giữa Đà Nẵng với tỉnh Quảng Nam và Thừa Thiên - Huế.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao người lao động giữ vị trí trung tâm trong lực lượng sản xuất tại Đà Nẵng? Theo triết học Mác - Lênin, con người là chủ thể sáng tạo trực tiếp chế tạo và vận hành công cụ sản xuất. Với dân số 951.680 người và 480.880 người thuộc lực lượng lao động, trình độ chuyên môn của người lao động đóng vai trò quyết định hiệu quả vận hành của 6 khu công nghiệp tập trung trên địa bàn.

Hạn chế lớn nhất về nguồn nhân lực của Đà Nẵng trong nghiên cứu là gì? Hạn chế lớn nhất là tình trạng thiếu hụt nhân lực tay nghề cao. Năm 2011, có tới 325.490 người (tương đương 71,1% lực lượng lao động) là lao động phổ thông chưa qua đào tạo, trong khi công nhân kỹ thuật chỉ đạt 39.950 người, tạo rào cản lớn cho việc phát triển các ngành công nghệ cao.

Khoa học công nghệ có vai trò thế nào đối với công nghiệp Đà Nẵng? Khoa học công nghệ là lực lượng sản xuất trực tiếp và đòn bẩy rút ngắn thời gian phát triển. Ứng dụng công nghệ giúp khu vực FDI tăng trưởng 37,69% năm 2010 và nâng kim ngạch xuất khẩu năm 2011 lên 1.436 triệu USD, hỗ trợ hơn 700 cơ sở cơ khí từng bước chuyển đổi sang máy móc tự động.

Vì sao thành phố cần chuyển dịch cơ cấu theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp? Mô hình này giúp phát huy tối đa lợi thế cửa ngõ biển của hành lang kinh tế Đông - Tây. Ngành thương mại dịch vụ đạt doanh thu bán lẻ gần 30.787 tỷ đồng năm 2010, tạo ra chuỗi giá trị gia tăng vượt trội và bảo đảm sự phát triển bền vững hơn nông nghiệp truyền thống.

Đà Nẵng cần làm gì để tránh trở thành bãi rác công nghệ trong quá trình thu hút đầu tư? Thành phố cần thẩm định chặt chẽ 180 dự án FDI hiện hữu và các dự án cấp mới, ưu tiên công nghệ cao và kiên quyết loại bỏ các dây chuyền máy móc lạc hậu nhằm bảo vệ môi trường sinh thái đô thị biển.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ đã mang lại những đóng góp khoa học và thực tiễn quan trọng:

  • Hệ thống hóa sâu sắc cơ sở lý luận Mác - Lênin về phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
  • Đánh giá toàn diện bức tranh kinh tế Đà Nẵng với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 11,1%/năm và 6 khu công nghiệp quy mô 1.451 ha.
  • Nhận diện chính xác điểm nghẽn chất lượng lao động khi có tới 325.490 người chưa qua đào tạo chuyên nghiệp.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về nhân lực, công nghệ, kinh tế biển và thể chế hướng tới mục tiêu năm 2020.
  • Cung cấp mô hình tham chiếu khoa học cho quá trình phát triển bền vững của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.

Lộ trình tiếp theo đòi hỏi chính quyền thành phố và các sở ngành khẩn trương triển khai đồng bộ các giải pháp đến năm 2020. Độc giả quan tâm hãy tải toàn văn luận văn để tiếp cận chi tiết hệ thống dữ liệu và khung giải pháp học thuật chuyên sâu.