Chương 1: Lý luận về phát triển hoạt động bảo lãnh của ngân hàng thương mại 'Chương 2: Thực trang phát triển hoạt động bảo lãnh tại Ngân hàng Đầu tu và Phát triển Việt Nam chỉ nhánh Đông DakLak Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động bảo lãnh tại Ngân hàng Đầu. tư và Phát triển Việt Nam chỉ nhánh Đông Đăkšk CHUONG1: LY LUAN VE PHAT TRIEN HOẠT DONG BAO LANH CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. NHUNG VAN ĐÈ CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VU BAO. LANH NGAN HANG THUONG MAI 1.
Khái niệm và đặc điểm, chức năng bảo lãnh ngân hàng 1 Khái niệm bảo lãnh Bảo lãnh là một khái niệm có từ rất xa xưa trong xã hội loài người Trong xã hội phong kiến người ta đã biết đến khái niệm lý trưởng và những. người có thế lực bảo lãnh cho tù nhân trong thời gian thỉ hành án, cha mẹ bảo. lãnh cho con. Sau đó bảo lãnh được phát triển sang lĩnh vực dân sự và nhiễu lĩnh vực khác của đời sống kinh tế xã hội.
'Cho đến nay, bảo lãnh không những tồn tại mà còn phát triển rất phong. phú va bao trầm lên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế ~ chính trị = xã hội của mỗi quốc gia. Vậy bảo lãnh là gi? Bảo lãnh là sự nhận cam kết của người nhận bảo lãnh sẽ thực hiện đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ nếu người xin bảo lãnh không thực hiện những cam kết đó đối với người thụ hưởng bảo lãnh. Bảo lãnh cần thiết khi hai bên tham.
gia vào một mỗi quan hệ kinh tế, chính trị hay xã hội còn chưa tín nhiệm nhau. Uy tín và lời hứa của bên này chưa đủ tin cậy đối với bên kia nhưng bên kia cũng không đủ khả năng về thời gian; Chi phi và kỹ thuật nghiệp vụ để đánh giá về bên kia. Lúc đó sự xuất hiện của bên thứ 3 có đủ độ tin cậy đối với cả hai bên thực hiện bảo lãnh sẽ là cầu nối giữa hai bên, đưa họ đến một quan điểm thống nhất “Từ khái niệm trên, ta thấy rõ hai đặc tính cơ bản của bảo lãnh: + Trong hoạt động bảo lãnh luôn có ba bên tham gia: Bên bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên thụ hưởng bao lãnh. + Trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ trước tiên thuộc về bên được bảo lãnh.
Bên bảo lãnh chỉ thực hiện các nghĩa vụ đó trong trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình. “Theo điều 361 Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14/6/2005 khái niệm bảo lãnh được xác định: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (Bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (Bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho 'bên có nghĩa vụ (Bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo. lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được.
bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.” Nhu vậy, theo định nghĩa trên trong bảo lãnh bao giờ cũng có ít nhất ba bên liên quan: ~ Bên bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên thụ hưởng bảo lãnh. — Quyển hạn và trách nhiệm của mỗi bên trong bảo lãnh được thể hiện 'bằng văn bản (hợp đồng), được ký kết bởi các bên tham gia. — Trong một nghiệp vụ bảo lãnh, thường sẽ bao gồm ba hợp đồng riêng. biệt và độc lập với nhau: + Hợp đồng giữa người được bảo lãnh và thụ hưởng bảo lãnh: Đây là.
hợp đồng chính của giao dịch kinh tế như: Hợp đồng vay vốn, Hợp đồng thương mại, Hợp đồng thi công xây dựng các công trình, Hợp đồng thiết kế. Từ hợp đồng chính được thỏa thuận giữa các bên mới phát sinh nhu cầu bảo. + Thư bảo lãnh hay hợp đồng bảo lãnh giữa người bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh. + Hợp đồng giữa người bảo lãnh và người được bảo lãnh: Là thỏa.
thuận giữa bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh về việc bên bảo lãnh chấp thuận việc bảo lãnh và các quy định liên quan đến trách nhiệm hoàn trả của bên được bảo lãnh đối với bên bảo lãnh trong trường hợp bên bảo lãnh phải trả thay, cũng như là các hình thức bảo đảm của bên được bảo lãnh đối với bên bảo lãnh. — Bên bảo lãnh chỉ thực hiện nghĩa vụ trả thay khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ cam kết với bên thụ hưởng bảo lãnh. — Sự biến động về tài chính của người bảo lãnh chỉ biến động khi phát sinh nghiệp vụ tra thay.2 Khái niệm bảo lãnh ngân hàng X<ét trong phạm vi chung của xã hội thì bảo lãnh rất đa dạng. Riêng bảo lãnh ngân hàng bắt đầu được sử dụng rộng rãi từ đầu thập niên 70.
Sự phát triển nhanh chóng của các nước sản xuất dầu hoả ở Trung Đông trong thời gian này đã cho phép họ mở rộng quan hệ ngoại thương, tham gia ký kết nhiều hợp đồng lớn với các đối tác ở Phương Tây về những dự án lớn như cải thiện cơ sở hạ tầng, các công trình công công, các dự án công, nông nghiệp và quốc phòng. Do đó, có thể nói đây là khu vực phát sinh đầu tiên của hoạt động bảo lãnh ngân hàng. Với sự phát triển của thương mại quốc tế, các giao dịch ngày càng mang tính toàn cầu. Tầm cỡ và sự phức tạp của các giao dịch đòi hoi và cũng là động lực thúc đây sự phát triển của bảo lãnh ngân hàng.
Bảo lãnh ngân hàng thường được thể hiện là cam kết của ngân hàng dưới hình thức thư bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho. khách hàng của ngân hàng khi khách hàng không thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ đã thoả thuận với bên yêu cầu bảo lãnh, được quy định cụ thể tại thư bảo lãnh của ngân hàng. Bảo lãnh ngân hàng có một số đặc tính hết sức quan trọng đó là tính độc lập với hợp đồng. Mặc dù mục đích của bảo lãnh ngân hàng là bồi hoàn cho người thụ hưởng những thiệt hại từ việc không thực hiện hợp đồng của.
người được bảo lãnh trong quan hệ hợp đồng nhưng việc thanh toán một bảo lãnh chỉ hoàn toàn căn cứ vào các điều khoản và các điều kiện như được quy. định trong thư bảo lãnh và ngân hàng không thể dựa vào những quyền khang nghị có được từ quan hệ hợp đồng. Như vậy, một khi các điều khoản và điều kiện của bảo lãnh được đáp ứng thì về mặt pháp lý, người thụ hưởng có quyền yêu cầu thanh toán tiền mà không cân thiết phải chứng minh các vi phạm của người được bảo lãnh mà chỉ cần lập chứng từ như yêu cầu của bảo lãnh. “Tuy nhiên, tính độc lập của bảo lãnh là phụ thuộc vào chính các điều kiện của bảo lãnh.
Nếu bảo lãnh quy định việc thanh toán là theo văn bản yêu. cầu của người thụ hưởng thì người thụ hưởng có quyền yêu cầu thanh toán mà không cần một điều kiện nào, ngân hàng phát hành phải thanh toán và người được bảo lãnh sẽ bồi hoàn lại cho ngân hàng phát hành. Mặt khác, bảo lãnh yêu cầu một chứng từ như: Phán quyết của toả án, một quyết định của trọng. tài, văn bản của bên thứ ba xác nhận sự vi phạm của người được bảo lãnh hay văn bản của người được bảo lãnh hay văn bản của người được bảo lãnh thừa nhận sự vi phạm của mình thì tính độc lập của bảo lãnh ít nhiều bị giảm đi.
“Tính độc lập còn thể hiện ở trách nhiệm thanh toán của ngân hàng phát hành. Trách nhiệm này hoàn toàn độc lập với mối quan hệ giữa ngân hàng. phat hành với người được bảo lãnh. Nếu như chứng từ hoàn toàn phủ hợp thì ngân hàng không thể từ chối thanh toán vì bắt cứ lý do gì nảy sinh trong quan hệ giữa họ và người được bảo lãnh, những lý do như: Người được bảo lãnh phá sản, người được bảo lãnh vẫn còn ng ngân hàng.
Hiện nay, thuật ngữ. bảo lãnh ngân hàng (Bank Guarantee) chưa được định nghĩa một cách thống nhất trong luật pháp quốc tế cũng như các thông. lệ được sử dụng phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên, khi nghiên cứu vẻ bảo lãnh ngân hàng, khái niệm bảo lãnh ngân hàng có thể hiểu như sau: Bảo lãnh ngân hàng là một biện pháp đảm bảo mang tính dự phòng, theo đó, định chế tải chính phát hành (the Guarantee) cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính cho bên nhận bảo lãnh (the Beneficiary) thay cho khách hang (the Principal) khi khách hàng vi phạm cam kết “Xét theo khía cạnh học thuật, bảo lãnh ngân hàng là một hình thức tin dụng chữ ký, là hoạt động không dùng đến vốn của ngân hàng.
Trong thương mại quốc tế, bảo lãnh ngân hàng là hình thức tài trợ ngoại thương, nhằm chống đỡ những tổn thất của người thụ hưởng bảo lãnh cho sự vi phạm nghĩa vụ của bên đối tác liên quan. Tại Việt Nam, theo Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/6/2006 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, khái niệm bảo lãnh được xác định Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của TCTD (Bên bảo lãnh) với bên có quyền (Bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (Bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho TCTD số tiền đã nhận trả thay. Theo điều 23 của Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/6/2006 về việc ban hành quy chế Bảo lãnh ngân hàng, quy định quyền và nghĩa vụ của bên bảo lãnh như sau: Quyền và nghĩa vụ của bên bảo lãnh: * Bên bảo lãnh có quyền: a. Chấp nhận hoặc từ chối để nghị cấp bảo lãnh của khách hàng hoặc của bên bảo lãnh đối ứng; b.
Để nghị bên xác nhận bảo lãnh xác nhận bảo lãnh đối với khoản bảo lãnh của mình cho khách hang; c. Yéu cau khach hang cung cap cac tai ligu, thông tin có liên quan đến việc thắm định bảo lãnh và tài sản bảo đảm (nếu có);. Yêu cầu khách hàng có các biện pháp bảo đảm cho nghĩa vụ được tổ chức tin dụng bảo lãnh (nếu cần); đ. Thu phí bảo lãnh theo thoả thị e.
Hạch toán ghi nợ và yêu cầu khách hàng hoặc bên bảo lãnh đối ứng. hoàn trả số tiền mà bên bảo lãnh đã trả thay. Xử lý tài sản bảo đảm của khách hàng theo thoả thuận và quy định. của pháp luật h.