phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về phát triển cây cà phê Chƣơng 2: Thực trạng phát triển cây cà phê trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk. Chƣơng 3: Một số giải pháp phát triển cây cà phê trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk. Tổng quan tài liệu nghiên cứu. - "Đề án qui hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng giai đoạn 2002 - 2005 tỉnh Đăk Lăk".
Sở NN&PTNT năm 2003). Đề án đã xây dựng hệ thống cách thức, biện pháp thực hiện quy hoạch trong đó đề cập đến việc chuyển đổi diện tích các loại cây trồng bao gồm cả cây cà phê. Đề án xác định lộ trình thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng giai đoạn 2002 – 2005. Chú trọng phát triển cà phê theo chiều sâu gắn với phát triển kinh tế [18].
- “Phát triển ngành sản xuất cà phê bền vững ở Tây nguyên” Tác giả Bùi Quang Bình (2008), Trƣờng Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng đã khẳng định vai trò to lớn của ngành sản xuất cà phê đối sự phát triển kinh tế của Tây Nguyên, đánh giá tính bền vững của ngành sản xuất cà phê ở đây, và đƣa ra Luan van 5 một số định hƣớng chính và giải pháp nhằm phát triển bền vững ngành sản xuất cà phê ở Tây Nguyên [3]. -“Hiệu quả kinh tế dây chuyền chế biến cà phê nhân trên địa bàn Tây Nguyên”. Tác giả Bùi Đức Thịnh (2005), Trƣờng Đại học Nông nghiệp I đã tiến hành làm luận văn Thạc sĩ kinh tế. Trong nghiên cứu này, tác giả mới chỉ nghiên cứu hiệu quả kinh tế của dây chuyền chế biến cà phê nhân mà chƣa quan tâm đến hiệu quả kinh tế sản xuất cà phê nhân của các hộ nông dân trồng cà phê [23].
- "Dự án quy hoạch phát triển cà phê bền vững giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến 2020". Sở NN&PTNT (2012). Dự án đƣợc tiến hành điều tra, nghiên cứu, lập quy hoạch trên phạm vi toàn tỉnh. Dự án đề xuất các giải pháp đặc thù cùng với các chính sách hỗ trợ kết hợp việc tổ chức thực hiện của các cơ quan, tổ chức nhằm xây dựng các vùng chuyên canh cà phê góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, ổn định an sinh xã hội và đảm bảo môi trƣờng [19].
- “Phát triển cà phê bền vững trên địa bàn huyện Cư Mgar tỉnh Đăk Lăk”. Tác giả Phạm Quốc Duy, năm 2012 là một luận văn thạc sĩ. Đề tài đã chỉ ra đƣợc thực trạng phát triển sản xuất cà phê trên địa bàn huyện Cƣ Mgar, xác định đƣợc các nhân tố ảnh hƣởng và đánh giá đƣợc tính bền vững về mặt kinh tế, xã hội và môi trƣờng trong việc phát triển cà phê của huyện. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp, hƣớng đi mới trong việc thực hiện từ hộ nông dân đến cấp quản lý [9].
- “Ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đến hiệu quả kinh tế của cây cà phê tỉnh Đăk Nông”. Tác giả Phạm Ngọc Toản, năm 2008 là một luận văn thạc sĩ trƣờng Đại học Kinh tế TP HCM. Đề tài đánh giá mức độ ảnh hƣởng các yếu tố đầu vào đến hiệu quả kinh tế cây cà phê tỉnh Đăk Nông. Đề tài sử dụng mô hình hồi qui với hàm Cobb-douglas để đánh giá ảnh hƣởng của các yếu tố đầu vào trên đến hiệu quả kinh tế.
Kết quả cho thấy mức độ ảnh hƣởng từ cao đến thấp là: diện tích đất trồng cà phê, phƣơng pháp bón phân và Luan van 6 kiến thức nông nghiệp của nông dân. Trên cơ sở kết quả mô hình hồi qui, tác giả đƣa ra gợi ý chính sách, đó là: thứ nhất, đầu tƣ mở rộng qui mô đất qua hình thức hợp tác, liên kết giữa các hộ, xây dựng mô hình kinh tế trang trại gia đình để phát huy tối đa lợi thế theo qui mô; thứ hai, áp dụng chặt chẽ phƣơng pháp bón phân khoa học, thực hiện đúng qui trình, kỹ thuật chăm sóc cây cà phê; thứ ba, nâng cao trình độ kiến thức nông nghiệp cho hộ gia đình để họ có khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ sinh học, phối hợp sử dụng các yếu tố đầu vào hợp lý, nhằm tăng hiệu quả kinh tế cây cà phê [23]. - “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế cây cà phê tại huyện Thống Nhất tỉnh Đồng Nai”. Tác giả Huỳnh Ngọc Vị (2006), Trƣờng Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh.
Thông qua việc đánh giá hiệu quả kinh tế cây cà phê đã tính đƣợc chỉ tiêu NPV = 23.000 đ, IRR = 22,24%, và Lợi nhuận nông dân là 5. Tuy nhiên, trong nghiên cứu, tác giả chƣa đƣa ra đƣợc đâu là hiệu quả kỹ thuật, đâu là hiệu quả phân bổ để giúp ngƣời nông dân nên quan tâm [34]. - "Báo cáo nghiên cứu đánh giá tác động của thực tiễn sử dụng các yếu tố đầu vào cho sản xuất cà phê tỉnh Đăk Lăk". Trần Thị Quỳnh Chi năm 2005.
Nghiên cứu Đánh giá và giải thích việc sử dụng các nguồn lực trong sản xuất cà phê hiện nay ở hai huyện Cƣ M’gar và Krong Ana thuộc tỉnh Đắk Lắk. So sánh và giải thích việc sử dụng các yếu tố đầu vào này với các tiêu chuẩn địa phƣơng do các viện nghiên cứu và trung tâm khuyến nông đƣa ra. Đƣa ra các đề xuất và kiến nghị cho nông dân và hệ thống khuyến nông. Hạn chế của nghiên cứu về thời gian và nguồn lực, nhóm tác giả chỉ lựa chọn 80 hộ trong 2 huyện điển hình về sử dụng các nguồn lực cho sản xuất cà phê ở Đắk Lắk để thấy đƣợc hiện trạng sử dụng hiện nay [7].
- “Chiến lược phát triển bền vững cho cà phê Việt nam” của ông Đặng Lê nguyên Vũ” đăng trên báo điện tử của VICOFA- Hiệp hội cà phê Việt nam đã đƣa Luan van 7 ra cac quan điểm rộng về cà phê; chỉ ra tiềm năng và lợi thế so sách của ngành cà phê Việt nam và đề xuất cac chiến lƣợc cho ngành cà phê Việt nam [36]. - Các tham luận và ý kiến thảo luận tại hội thảo “Phát triển cà phê Buôn Ma Thuột bền vững”, đƣợc tổ chức tại Buôn Ma Thuột (13-03/2011) : “Việt Nam là nƣớc xuất khẩu cà phê Robusta lớn nhất thế giới với diện tích trên 500.000 ha, hàng năm cho sản lƣợng trên dƣới 1 triệu tấn nhân. Với giá trị tổng sản lƣợng chiếm khoảng 2% GDP, ngành cà phê đóng góp không nhỏ vào tăng trƣởng kinh tế của đất nƣớc, là nguồn thu nhập chủ yếu của 540.000 hộ nông dân với hơn 1,6 triệu lao động ở vùng sâu, vùng xa, nhất là Tây Nguyên” [40]. Nhìn chung các nghiên cứu, bài viết đã tập trung phân tích và chỉ ra những bất cập trong việc phát triển ngành cà phê Việt nam, Tây nguyên và Đắk Lắk và một số huyện của tỉnh Đắk Lắk trong thời gian qua.
Qua đó đã đề xuất một số giải pháp thích đáng cho việc phát triển cà phê trong thời gian tới. Cho đến nay chƣa có một công trình nghiên cứu nào về vấn đề phát triển cây cà phê trên địa bàn thị xã Buôn Hồ tỉnh Đắk Lắk. Đề tài xem xét kế thừa và bổ sung cho nghiên cứu của mình nhằm cụ thể hóa và đánh giá một cách toàn diện về phát triển cây cà phê trên địa bàn thị xã Buôn Hồ. Luan van 8 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÂY CÀ PHÊ 1.
KHÁI QUÁT VỀ CÂY CÀ PHÊ VÀ PHÁT TRIỂN CÂY CÀ PHÊ. Cây cà phê và đặc điểm kinh tế kỹ thuật của cây cà phê a. Giới thiệu cây cà phê. Cây cà phê chịu tác động và ảnh hƣởng lớn của các yếu tố tự nhiên nhƣ: mƣa, gió, nhiệt độ, độ ẩm, đặc biệt cây cà phê không chịu đƣợc khô hạn, nên vấn đề nƣớc tƣới là rất quan trọng, tác động trực tiếp đến năng suất và chất lƣợng cà phê.
Chu kỳ kinh tế của cây cà phê trải qua hai thời kỳ: Thời kỳ kiến thiết cơ bản (KTCB) khoảng 3 năm và thời kỳ sản xuất kinh doanh khoảng 16-18 năm, do đó ảnh hƣởng rất lớn đến quá trình đầu tƣ vốn và thu hồi vốn của nông dân. - - - - Sản xuất cà phê mang tính thời vụ cao. Thời vụ thu hoạch một năm một lần vào khoảng từ tháng 10 đến giửa tháng 01 năm sau. Lao động sử dụng cho việc trồng chăm sóc, thu hoạch rải đều quanh năm nên có thể sử dụng lao động gia đình nhƣng đến thời kỳ thu hoạch tập trung khối lƣợng lớn, thời gian ngắn nên cần phải tính toán thuê mƣớn lao động thời vụ để thu hoạch kịp thời vụ.
Luan van 10 - Sản phẩm cà phê sau thu hoạch cần chế biến kịp thời theo đúng quy trình trong chế biến ( từ khi thu hoạch đến khi chế biến không quá 12 giờ) và cần có kho tàng bảo quản, phƣơng tiện vận chuyển… để đảm bảo chất lƣợng nguyên liệu và sản phẩm cà phê. Khái niệm về phát triển cây cà phê Phát triển cây cà phê bao gồm hai khía cạnh: phát triển theo chiều rộng và phát triển sản xuất theo chiều sâu. * Phát triển sản xuất theo chiều rộng. Phát triển sản xuất theo chiều rộng là tăng số lƣợng lao động, khai thác thêm các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tăng thêm tài sản cố định và tài sản lƣu động trên cơ sở kĩ thuật nhƣ trƣớc.
Trong sản xuất cà phê phát triển theo chiều rộng là tăng về mặt qui mô diện tích, sản lƣợng, doanh thu, lợi nhuận.nhƣng không thay đổi về mặt kỷ thuật và có khi còn giảm về các chỉ tiêu đánh giá trên đơn vị diện tích.Vì vậy, phƣơng hƣớng cơ bản và lâu dài là phải chuyển sang phát triển kinh tế theo chiều sâu. * Phát triển sản xuất theo chiều sâu. Phát triển sản xuất theo chiều sâu là chủ yếu nhờ đổi mới thiết bị, áp dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao trình độ kĩ thuật, cải tiến tổ chức sản xuất và phân công lại lao động, sử dụng hợp lí và có hiệu quả các nguồn nhân tài, Luan van 11 vật lực hiện có. Kết quả phát triển sản xuất theo chiều sâu đƣợc biểu hiện ở các chỉ tiêu: tăng hiệu quả kinh tế, tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, giảm hàm lƣợng vật tƣ và tăng hàm lƣợng chất xám, nâng cao chất lƣợng sản phẩm, tăng hiệu suất của đồng vốn, tăng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân theo đầu ngƣời .