Chương 1: Những vấn đề chung về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trong quân đội Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trong quân đội ở nước ta hiện nay Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và cổ phần hoá cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trong quân đội 11 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC VÀ CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC TRONG QUÂN ĐỘI 1.1 Khái niệm cổ phần hoá Thế kỷ XX, cùng với thành tựu mới của khoa học kỹ thuật và xã hội hoá cao của lực lượng sản xuất, đã xuất hiện DNNN như một công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Trong các nước tư bản phát triển, tỷ trọng sở hữu nhà nước có khác nhau, có nước ít như Mỹ 2%, Anh 8%, Nhật 11%, có nước cao như Italy 39-42% [ 13, tr. Có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau song tất cả các DNNN đều có điểm chung là hoạt động kém hiệu quả. Vì vậy, từ đầu thập niêm 80, nhiều nước có nền kinh tế thị trường thường chọn tư nhân hoá như một trong những giải pháp để khắc phục tình trạng này.
Hiểu một cách chung nhất, tư nhân hoá là quá trình chuyển sở hữu nhà nước, chuyển lĩnh vực hoạt động của Nhà nước nắm giữ sang sở hữu tư nhân. Để thực hiện quá trình này có thể sử dụng nhiều phương pháp như bán cho tư nhân, cho không công nhân viên chức, sáp nhập, bán đấu giá. Vậy CPH là gì? CPH (theo nghĩa chuyển thành CTCP) là việc chuyển bất cứ loại hình DN nào thành CTCP, từ DN tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn đến DNNN hay hợp tác xã, là một hình thức chuyển đổi mô hình doanh nghiệp. Về bản chất của CPH, hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau.
Có người cho rằng CPH là nhằm xác định chủ sở hữu cụ thể đối với DN. Có ý kiến khác cho rằng, thực chất CPH là quá trình xã hội hoá sản xuất cả về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Tuy nhiên, xét ở bản chất pháp lý, CPH là việc biến DN một chủ thành DN của nhiều chủ, tức là chuyển từ hình thức sở hữu đơn nhất sang sở hữu chung thông qua việc chuyển một phần tài sản của DN cho những người khác. Những người này trở thành chủ sở hữu của DN theo tỷ lệ tài sản mà họ sở hữu trong DN CPH.
Xét dưới góc độ này thì CPH dẫn tới sự xuất hiện không chỉ của công ty cổ phần trên nền tảng của DN được CPH. Bản chất của CPH không 12 phải lúc nào cũng được hiểu đúng trong thực tiễn xây dựng và thực hiện pháp luật về CPH. Có quan điểm đồng nhất CPH với tư nhân hoá hay có quan điểm cho rằng CPH chỉ liên quan đến DNNN. Với tư cách là sự kiện pháp lý của việc chuyển đổi hình thức sở hữu của DN, CPH có thể áp dụng đối với bất cứ loại hình DN nào thuộc sở hữu của một chủ duy nhất.
Do đó một DN tư nhân hay DN 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài đều có thể trở thành đối tượng của CPH. Các DN này có thể chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn thông qua CPH. Tuy nhiên hiện nay, nội hàm thông dụng nhất của khái niệm này là chỉ việc chuyển DN thuộc sở hữu nhà nước sang hình thức sở hữu nhiều thành phần hay còn gọi là quá trình chuyển đổi mô hình DN từ DNNN thành CTCP. Vì vậy, trong khuôn khổ Luận văn này CPH sẽ được hiểu theo nội hàm này.
Các văn bản pháp luật hiện hành cũng có cách tiếp cận CPH DNNN theo cách này. Vì vậy, việc CPH DNNN hiện nay chỉ dừng ở việc chuyển thành CTCP. Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày l6-11-2004 của Chính phủ tiếp cận theo hướng hình thành cả công ty trách nhiệm hữu hạn. Vậy thực chất CPH nhằm giải quyết các vấn đề: - Về sở hữu: Nhằm đa dạng hoá quyền sở hữu.
- Về hoạt động: Nhằm thương mại hoá hoạt động sản xuất của DN tạo quyền chủ động sản xuất kinh doanh của DN, xây dựng kế hoạch hoạt động theo nhu cầu thị trường và đảm bảo hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước, cắt bỏ sự quan hệ theo kiểu mệnh lệnh hành chính cứng nhắc kém hiệu quả. - Về quản lý: Nhằm thay đổi phương thức tổ chức quản lý trong DN. - Về hiệu quả: Nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN. - Về hình thức: CPH một số DN chứ không phải tất cả các DNNN.
Khi CPH DN có thể áp dụng phương thức bán tất cả các cổ phần cho các cổ đông là tư nhân và cá thể hoặc Nhà nước nắm giữ một số cổ phần theo mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào vị trí của từng DN và yêu cầu điều tiết kinh tế của Nhà nước đối với DN đó. Theo quy định của các văn bản pháp luật hiện hành, khái niệm CPH được 13 hiểu là việc chuyển DN thuộc sở hữu nhà nước thành sở hữu của các cổ đông thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Quá trình này được tiến hành bằng nhiều cách như: (1)giữ nguyên giá trị thuộc vốn nhà nước có tại DN; (2)phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn để phát triển DN; (3)bán một phần giá tri hiện có tại DN; (4) bán toàn bộ hoặc một phần giá trị hiện có của DN. Kết quả của quá trình này luôn tạo ra một CTCP.
Có thể thấy, CPH chỉ là một trong những giải pháp sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả DN (cải cách DNNN), tuy nhiên qua thực tế có thể thấy đây là giải pháp phù hợp với nền kinh tế nước ta trong giai đọan hiện nay. Như vậy, dưới góc độ pháp lý, CPH là quá trình chuyển đổi mô hình DNNN sang CTCP, là việc biến DN một chủ thành DN của nhiều chủ, tức là chuyển từ hình thức sở hữu đơn nhất sang sở hữu chung thông qua việc chuyển một phần tài sản của DN cho những người khác. Những người này trở hành sở hữu chủ của DN theo tỷ lệ tài sản mà họ sở hữu trong DNCPH. Một DNNN sau khi CPH sẽ không còn hoạt động theo luật DNNN mà chuyển sang loại hình CTCP, chịu sự điều chỉnh của Luật DN.
Địa vị pháp lý của DN lúc này được xác lập theo các quy định của Luật DN kéo theo toàn bộ các vấn đề có liên quan đến hoạt động của DN từ bản chất pháp lý, quyền và nghĩa vụ, cơ chế quản lý đến quy chế pháp lý về thành lập, giải thể, phá sản đều phải chịu sự điều chỉnh của Luật này. Dưới góc độ sở hữu, CPH là biện pháp chuyển DN từ sở hữu nhà nước sang hình thức sở hữu nhiều thành phần. Khi tiến hành CPH một DNNN, nghĩa là nhà nước sẽ định giá lại toàn bộ vốn và tài sản của mình tại DN, rồi chia chúng ra thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần. Những cổ phần đó sẽ được bán cho người lao động của DN và các tổ chức cá nhân khác thuộc mọi thành phần kinh tế.
Nhà nước có thể bán toàn bộ hoặc giữ lại một số cổ phần nhất định tại DN. Kết quả là DN không còn thuộc một chủ sở hữu duy nhất nữa mà thuộc quyền sở hữu của rất nhiều thành phần kinh tế và hoạt động dưới hình thức CTCP. 14 Những người đã mua cổ phiếu của DN đã CPH sẽ có quyền sở hữu DN tương ứng với phần vốn góp kể cả phải chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của công ty tương ứng với phần vốn góp đó. Điều này giúp xác định rõ ràng tài sản riêng của công ty với tài sản riêng của chủ sở hữu, khắc phục trạng thái mập mờ trước đây trong mối quan hệ Nhà nước-DNNN.
Dưới góc độ kỹ thuật thực hiện, CPH là việc nhà nước bán một phần hay toàn bộ tài sản của mình trong DN cho các đối tượng, tổ chức hoặc cá nhân trong và ngoài nước hoặc cán bộ công nhân viên trong xí nghiệp thông qua bán đấu giá công khai, bán trực tiếp tại DN, bán thông qua các đại lý là tổ chức trung gian tài chính hoặc qua thị trường chứng khoán từ đó hình thành nên các CTCP. CPH cũng được thực hiện thông qua việc phát hành cổ phiếu. Tuy nhiên, nó không đồng nhất với quá trình này vì phát hành cổ phiếu không chỉ để huy động vốn, mà nó còn hình thành nên một CTCP mới mà nhà nước là sáng lập viên. Như vậy có thể thấy, theo quy định của pháp luật Việt Nam, CPH DNNN là quá trình chuyển DNNN từ hình thức sở hữu độc nhất của nhà nước sang hình thức sở hữu đa thành phần thông qua việc thu hút thêm vốn từ các thành phần kinh tế khác nhau hoặc bán toàn bộ hay một phần tài sản của DN thuộc sở hữu nhà nước để thành lập công ty cổ phần.
Để làm rõ hơn khái niệm về CPH, ta cần nghiên cứu, phân biệt rõ hơn CPH và tư nhân hoá. Do CPH với tư cách là một giải pháp sắp xếp đổi mới phát triển nâng cao hiệu quả DNNN được áp dụng song song với tư nhân hoá nên việc nghiên cứu để phân biệt chúng là một trong những điều cần quan tâm, làm rõ.2 Phân biệt cổ phần hoá và tƣ nhân hoá 1.1 Tư nhân hoá Tư nhân hoá được sử dụng chủ yếu ở các nước mà kinh tế nhà nước chiếm tỷ lệ lớn và đi theo xu hướng tư bản chủ nghĩa. Theo định nghĩa về tư nhân hoá được Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) đưa ra, tư nhân 15 hoá là việc chuyển tài sản từ thành phần kinh tế công sang thành phần kinh tế tư [15, tr. Trong các giải pháp cải cách DNNN thì tư nhân hoá và CPH được áp dụng phổ biến ở nhiều nước nhất.
Giữa tư nhân hoá và CPH có những điểm chung rất cơ bản. Chính vì vậy, nhiều quan điểm đến nay vẫn cho rằng CPH là một dạng tư nhân hoá hay CPH là tư nhân hoá từng phần. Tuy nhiên, chúng tôi nhất trí với quan điểm của PGS.TS Lê Hồng Hạnh cho rằng "tư nhân hoá là việc chuyển một phần các lực lượng sản xuất từ thành phần kinh tế công vào tay tư nhân. Tư nhân hoá là đối cực của quốc hữu hoá.