Luận văn thạc sĩ pháp luật về phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài kinh nghiệm nước ngoài và những gợi ý đối với việt nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu pháp luật về phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài kinh nghiệm nước ngoài và những gợi ý đối, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2015

97
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về pháp luật phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài

Phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài là một vấn đề phức tạp trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Luật pháp Việt Nam hiện hành chưa có quy định đầy đủ về thủ tục phá sản cho doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài, dẫn đến nhiều khó khăn trong việc giải quyết các vụ việc. Việc nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật về phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài là cần thiết để bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan và thúc đẩy môi trường đầu tư.

1.1. Khái niệm phá sản doanh nghiệp và yếu tố nước ngoài

Phá sản doanh nghiệp được hiểu là tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn. Yếu tố nước ngoài trong phá sản doanh nghiệp có thể là chủ nợ, con nợ hoặc tài sản nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam. Điều này tạo ra những thách thức trong việc áp dụng pháp luật và giải quyết tranh chấp.

1.2. Đặc điểm của phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài

Phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài thường liên quan đến các chủ đầu tư nước ngoài, tài sản ở nhiều quốc gia và quy trình pháp lý phức tạp. Những đặc điểm này đòi hỏi sự phối hợp giữa các cơ quan tư pháp của nhiều quốc gia để giải quyết hiệu quả.

II. Vấn đề và thách thức trong pháp luật phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài

Việc áp dụng pháp luật về phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam gặp nhiều thách thức. Các quy định hiện hành chưa đủ để xử lý các tình huống phức tạp, dẫn đến tình trạng bế tắc trong giải quyết các vụ việc. Cần có những cải cách để nâng cao hiệu quả của hệ thống pháp luật.

2.1. Khó khăn trong việc xác định thẩm quyền giải quyết

Việc xác định thẩm quyền của tòa án trong các vụ phá sản có yếu tố nước ngoài thường gặp khó khăn. Các quy định hiện hành chưa rõ ràng, dẫn đến sự lúng túng trong việc áp dụng pháp luật.

2.2. Thách thức trong việc thu hồi tài sản

Quá trình thu hồi tài sản trong các vụ phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài thường kéo dài và phức tạp. Việc thiếu thông tin về địa chỉ của các chủ nợ nước ngoài làm cho việc thu hồi tài sản trở nên khó khăn hơn.

III. Phương pháp giải quyết phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài

Để giải quyết hiệu quả các vụ phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài, cần áp dụng các phương pháp pháp lý phù hợp. Việc cải cách quy trình pháp lý và tăng cường hợp tác quốc tế là rất quan trọng.

3.1. Cải cách quy trình pháp lý

Cần thiết phải cải cách quy trình pháp lý để đơn giản hóa thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài. Điều này sẽ giúp tiết kiệm thời gian và chi phí cho các bên liên quan.

3.2. Tăng cường hợp tác quốc tế

Hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vụ phá sản có yếu tố nước ngoài là rất cần thiết. Việc ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp sẽ giúp nâng cao hiệu quả trong việc thu hồi tài sản và giải quyết tranh chấp.

IV. Kinh nghiệm quốc tế về pháp luật phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài

Nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia khác trong việc giải quyết phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài sẽ giúp Việt Nam hoàn thiện hệ thống pháp luật. Các quốc gia như Pháp, Mỹ đã có những quy định rõ ràng và hiệu quả trong lĩnh vực này.

4.1. Kinh nghiệm từ Pháp

Pháp có hệ thống pháp luật rõ ràng về phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài, giúp bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan. Việc áp dụng các quy định này có thể là bài học quý giá cho Việt Nam.

4.2. Kinh nghiệm từ Mỹ

Mỹ đã phát triển các quy trình pháp lý hiệu quả cho việc giải quyết phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài. Việc áp dụng các phương pháp này có thể giúp Việt Nam cải thiện quy trình pháp lý của mình.

V. Gợi ý hoàn thiện pháp luật về phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam

Để hoàn thiện pháp luật về phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài, cần có những gợi ý cụ thể. Việc sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành là cần thiết để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

5.1. Sửa đổi quy định về thẩm quyền tòa án

Cần sửa đổi quy định về thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết các vụ phá sản có yếu tố nước ngoài để đảm bảo tính hợp lý và hiệu quả.

5.2. Bổ sung quy định về thu hồi tài sản

Bổ sung các quy định về thu hồi tài sản trong các vụ phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài sẽ giúp nâng cao hiệu quả trong việc giải quyết các vụ việc.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai của pháp luật phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài

Pháp luật về phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam cần được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Việc nghiên cứu và áp dụng các kinh nghiệm quốc tế sẽ giúp nâng cao hiệu quả của hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này.

6.1. Tương lai của pháp luật phá sản tại Việt Nam

Tương lai của pháp luật phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam sẽ phụ thuộc vào khả năng cải cách và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Cần có sự đồng bộ giữa các quy định pháp luật và thực tiễn.

6.2. Vai trò của các cơ quan chức năng

Các cơ quan chức năng cần đóng vai trò tích cực trong việc thực thi pháp luật về phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài. Sự phối hợp giữa các cơ quan sẽ giúp nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ việc.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ pháp luật về phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài kinh nghiệm nước ngoài và những gợi ý đối với việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1. Nhận thức chung về phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài 1. Khái niệm chung về phá sản doanh nghiệp 1. Phá sản doanh nghiệp Danh từ phá sản được bắt nguồn từ tiếng Latinh "RUIN" có nghĩa là là "sự khánh tận" khái niệm này dùng để chỉ tình trạng mất cân đối giữa thu và chi của một chủ doanh nghiệp mà biểu hiện trực tiếp và rõ nhất của sự mất cân đối giữa thu và chi là tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn phải trả.

Hiện tượng phá sản trong nền kinh tế thị trường của các doanh nghiệp là hiện tượng bình thường và là tất yếu của quy luật cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh. Quy luật này diễn ra ở bất cứ quốc gia nào bất cứ doanh nghiệp nào có cơ chế quản lý không phù hợp và không theo kịp nền kinh tế thị trường. Hiện tượng phá sản chính là quy luật tất yếu của sự cạnh tranh nhằm tạo ra các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của toàn xã hội, tạo thêm không khí mới trong sản xuất kinh doanh. Pháp luật của nhà nước trên thế giới có nhiều chế định khác nhau về pháp luật phá sản đối với các loại hình doanh nghiệp.

Thậm chí có nhiều quan điểm khác nhau về định lượng và định tính trong việc xác định một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản doanh nghiệp hay mất khả năng thanh toán nợ đến hạn như luật phá sản của Malayxia, Hunggari, Trung Quốc. Song cho dù có các chế định khác nhau như vậy nhưng pháp luật các nước đều có khái niệm thống nhất là một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản khi doanh nghiệp đó không còn khả năng thanh toán nợ đến hạn. 3 Theo quy định tại điều 4 Luật Phá sản nước Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 51/2014/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015: “Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản”. “ Phá sản doanh nghiệp” là thuật ngữ chỉ tình trạng một con nợ không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, đồng thời đây cũng là thuật ngữ chỉ thủ tục xử lý phá sản nhằm giải quyết tình trạng khó khăn đó trên cơ sở một quyết định của cơ quan hành chính hoặc của tòa án.

Hiện nay, nghĩa thứ hai của thuật ngữ này không còn được sử dụng trong pháp luật hiện đại, đặc biệt là trong pháp luật của nước Pháp. Thay vì sử dụng thuật ngữ “Phá sản”, pháp luật của nước Pháp thường sử dụng các thuật ngữ khác như: “Thủ tục giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán”, “phục hồi hoặc thanh lý doanh nghiệp” hoặc “Thủ tục giải quyết nợ tập thể”. Trong xu thế phát triển của pháp luật hiện đại, thuật ngữ “Phá sản” còn mang ý nghĩa là biện pháp áp dụng đối với cá nhân chủ doanh nghiệp, theo đó, chủ doanh nghiệp sẽ không được phép tham gia hoạt động thương mại hoặc tham gia lãnh đạo doanh nghiệp. Mặc dù vậy, Tư pháp quốc tế vẫn tiếp tục sử dụng thuật ngữ “Phá sản” bởi lý do thuật ngữ này đơn giản và dễ được thừa nhận ở nước ngoài.

Đặc điểm phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài Phá sản có yếu tố nước ngoài (cross-border insolvency) có thể được hiểu theo nghĩa hẹp là trường hợp con nợ bị lâm vào tình trạng phá sản có tài sản ở nhiều nước. Theo nghĩa rộng, thuật ngữ “Phá sản có yếu tố nước ngoài” được sử dụng đối với trường hợp phá sản mà có bất kỳ yếu tố nước ngoài nào như: doanh nghiệp có hoạt động ở ngoài lãnh thổ quốc gia dù cho hoạt động đó không có sự hỗ trợ tài sản hoặc trường hợp chủ nợ của doanh nghiệp ở nước ngoài. 4 Theo quy định tại Luật Phá Sản năm 2014 có hiệu lực từ 01/01/2015, chỉ có 02 điều nói về thủ tục phá sản có yếu tố nước ngoài (điều 116 và điều 117). Như vậy là chưa thể đủ để giải quyết những trường hợp phát sinh vô cùng phức tạp trong thực tế về phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài.

Trong hội nhập kinh tế, kèm theo cơ hội giao thương với nước ngoài là những vấn đề tranh chấp có yếu tố nước ngoài. Từ thực tế giải quyết các vụ phá sản cho thấy, có 3 đặc điểm về phá sản doanh nghiệp có yếu tố liên quan nước ngoài bao gồm: - Chủ đầu tư là tổ chức, cá nhân nước ngoài. - Đại diện theo pháp luật của DN là người nước ngoài. - Chủ nợ/con nợ là tổ chức, cá nhân nước ngoài.

Thứ nhất, đối với chủ đầu tư là tổ chức, cá nhân nước ngoài: có trường hợp chủ đầu tư nước ngoài đã bị phá sản, khi đó, liên doanh Việt Nam rơi vào cảnh bơ vơ, không rõ ai là ông chủ, ai sẽ đại diện cho phần vốn nước ngoài tại liên doanh để tham gia vào quá trình giải quyết phá sản. Thứ hai, đối với DN liên doanh tự đề nghị Tòa án tuyên bố phá sản DN của mình, người đại diện theo pháp luật là người nước ngoài, khi thấy thủ tục giải quyết phá sản quá phức tạp thì đã về nước mà không báo cho ai. Lý do họ đưa ra là khi Tòa tuyên bố mở thủ tục phá sản thì họ không được trả lương, không có lương thì họ về nước. Cho đến nay, chưa có cơ chế cấm xuất cảnh nào đối với những người này.

Phía Việt Nam trong liên doanh cũng không có quyền yêu cầu họ ở lại. Hiện các Tòa án không biết phải giải quyết trường hợp này thế nào. Liệu có thể áp dụng thủ tục tố tụng dân sự để đình chỉ giải quyết việc phá sản khi triệu tập hai lần mà người yêu cầu tuyên bố phá sản đối với chính DN của họ không đến Tòa án để giải quyết? Thứ ba, khi chủ nợ/con nợ là người nước ngoài, chi phí dịch tài liệu lấy ở đâu khi mà DN đã lâm vào tình trạng phá sản? Nhiều trường hợp thông báo, 5 công văn của Tòa án gửi đi, nhưng chủ nợ/con nợ không nhận được, vì họ đã chuyển trụ sở và không thông báo cho DN Việt Nam biết. Vấn đề là liệu có thể áp dụng quy định khi Tòa án thông báo hai lần mà không đến thì mất quyền đòi nợ (đối với chủ nợ) như thủ tục tố tụng dân sự, cũng như làm cách nào thu hồi nợ đối với con nợ? Tuy nhiên, nếu áp dụng quy định này có thể vấp phải phản ứng của phía nước ngoài khi họ đưa ra lý do rằng họ không biết thông tin về vụ phá sản, chứ không phải biết mà không thực hiện.

Trong trường hợp này, có thể áp dụng thủ tục ủy thác tư pháp theo Bộ luật Tố tụng dân sự hay không? Trên thực tế, nếu được áp dụng chế định ủy thác tư pháp, thì việc thực hiện ủy thác cũng rất khó khăn và có thể không thực hiện được, vì không có địa chỉ mới của các tổ chức, cá nhân này. Chưa kể, thực tế cho thấy, tỷ lệ nợ nước ngoài thường khá cao, điều này dẫn đến tình trạng khó có thể mở hội nghị chủ nợ, bởi hội nghị chủ nợ yêu cầu có trên 50% số chủ nợ không có bảo đảm tham gia và đại diện cho ít nhất 2/3 tổng số nợ. Bởi vậy, nếu không thể thông báo cho chủ nợ nước ngoài, vụ phá sản có thể sẽ lâm vào tình trạng bế tắc, không thể đình chỉ, cũng không thể tiếp tục, không biết đến bao giờ mới có thể giải quyết. Nghiên cứu một số vụ phá sản có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam thời gian qua, ngoài những đặc điểm nêu trên còn có một số đặc điểm nổi bật như sau: - Phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài hình thành chủ yếu trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, mở cửa, đặc biệt trong những năm gần đây khi đất nước ta đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.Trước thời kỳ đổi mới, mở cửa, nền kinh tế nước ta khép kín, kinh tế đối ngoại chủ yếu là các hoạt động kinh tế kế hoạch với một số nước xã hội chủ nghĩa.

Sau năm 1986, nhất là từ sau thời kỳ bình thường hoá quan hệ với Mỹ và đẩy mạnh quan hệ kinh tế với một số nền kinh tế lớn trên thế giới như Nhật Bản, Tây Âu, các hoạt động kinh tế của nước ta diễn ra đa dạng về hình thức và 6 tăng mạnh mẽ từng năm về cán cân thương mại với các nước, đặc biệt là từ sau khi Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế, tham gia một số tổ chức, định chế tài chính, kinh tế lớn ở khu vực và trên thế giới như Tổ chức Thương mại thế giới, Hiệp hội các nước ASEAN…. Theo đó, các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, kinh tế thế giới và khu vực đến Việt Nam nghiên cứu, hợp tác và tiến hành các hoạt động kinh tế, tài chính, thương mại cũng ngày một tăng lên; nguồn vốn đầu tư trực tiếp, gián tiếp của nước ngoài vào Việt Nam ngày càng lớn, năm sau cao hơn năm trước. Đồng thời, các doanh nghiệp Việt Nam ra đầu tư ra nước ngoài ngày càng nhiều. - Tài sản trong các phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài có nguồn gốc ở cả trong và ngoài nước, trong đó nhiều vụ án có nguồn gốc tài sản từ nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức từ nước ngoài.

Tài sản có nguồn gốc từ nước ngoài như: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; tài sản là các phương tiện kỹ thuật như máy móc, thiết bị công nghệ, thiết bị kỹ thuật phực vụ xây dựng, giao thông, sản xuất công nghiệp có nguồn gốc từ nước ngoài. - Đa số các vụ phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài việc phát hiện, xử lý thường kéo dài; nhiều vụ việc chậm được xem xét, kết luận. Quan điểm về “Yếu tố nước ngoài” trong thuật ngữ phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài Ở Việt Nam chưa có quy định pháp luật nào đưa ra định nghĩa về “doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài”. Bộ luật dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 quy định "yếu tố nước ngoài" bao gồm: 1.

Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; 2. Căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó phát sinh tại nước ngoài, theo pháp luật nước ngoài; 3. Tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ