Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP 1. Những vấn đề lý luận về kế toán doanh nghiệp 1. Khái niệm, đặc trưng của kế toán và kế toán doanh nghiệp 1. Khái niệm kế toán và các loại hình kế toán Trong nền kinh tế hàng hóa vận hành theo cơ chế thị trường, các tài liệu kế toán được xác định như một tấm gương phản chiếu toàn bộ hoạt động kinh tế nói chung, quá trình sản xuất kinh doanh nói riêng.
Xét về phương diện lý thuyết, khái niệm “kế toán” có thể được tiếp cận và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Dưới đây là một số định nghĩa tiêu biểu về “kế toán”: Trước đây, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, khái niệm “kế toán”được giải thích như sau: “Kế toán là công việc ghi chép, tính toán, phản ánh bằng con số một cách liên tục, toàn diện và hệ thống các loại vật tư, tiền vốn và mọi hoạt động kinh tế, qua đó mà giám đốc nắm được tình hình thực hiện kế hoạch nhà nước, tình hình bảo vệ tài sản XHCN” [8, tr7]. Trong pháp luật thực định trước đây, tại Điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước ban hành theo NĐ số 25- HĐBT cũng có khẳng định: “Kế toán là công việc ghi chép tính toán bằng con số dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động, chủ yếu dưới hình thức giá trị để phản ánh, kiểm tra tình hình vận động của các loại tài sản, quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn và kinh phí của Nhà nước cũng như của từng tổ chức xí nghiệp”. Theo Luật kế toán Việt Nam 2015: “Kế toán là việc thu thập xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động” (Điều 3 Luật Kế toán số 88/2015/QH13).
Như vậy, từ những khái niệm về kế toán nêu trên, ta có thể thấy rằng quan niệm về kế toán là tương đối khác nhau tùy thuộc vào cách tiếp cận của người nghiên cứu. 5 Trước đây người ta thường hiểu công việc kế toán chỉ gồm các nhiệm vụ giữ sổ sách kế toán, ghi chép, phân loại và tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Mục đích của kế toán trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung là nhằm cung cấp thông tin cho Nhà nước để kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch. Chức năng của kế toán trong nền kinh tế kế hoạch hóa là phản ánh và giám đốc tài sản XHCN và các hoạt động kinh tế.
Hiện nay, công việc kế toán được hiểu rộng hơn nhiều. Kế toán là một hệ thống thông tin dùng để đo lường, xử lý và truyền đạt những thông tin về tài chính của một đơn vị kế toán. Thông tin này giúp người sử dụng có thể đưa ra các quyết định hợp lý cho mình. Vì vậy, người kế toán ngày nay không chỉ quan tâm đến việc giữ sổ sách mà phải quan tâm đến toàn bộ các hoạt động như: việc hoạch định chương trình và giải quyết vấn đề; hướng sự quan tâm của lãnh đạo đến những điều cần lưu tâm, đánh giá và duyệt xét các hoạt động của đơn vị kế toán, kiểm tra sổ sách… Kế toán bao gồm việc thiết kế một hệ thống thông tin đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng thông tin về kế toán ở cả trong và ngoài đơn vị kế toán.
Trong nền kinh tế thị trường, các đơn vị kế toán đều bình đẳng, mối quan hệ kinh tế tài chính của các đơn vị kế toán được mở rộng. Mặt khác, với sự phát triển đa dạng của các nguồn tạo vốn từ bên ngoài đã làm cho đối tượng sử dụng thông tin kế toán trở nên đa dạng hơn. Mục đích của kế toán không chỉ cung cấp thông tin chủ yếu cho bản thân doanh nghiệp, cho Nhà nước, mà còn cung cấp thông tin cho các đối tượng như ngân hàng, các nhà đầu tư tương lai, nhà cung cấp, khách hàng… Tuy nhiên, cho dù có sự khác biệt trong nhận thức hay cách tiếp cận nhưng hầu hết các quan niệm về kế toán hiện nay đều thống nhất rằng bản chất của kế toán là hệ thống thông tin và kiểm tra về hoạt động kinh tế tài chính của một chủ thể nhất định. Do vậy, kế toán được xem là công cụ không thể thiếu trong hệ thống quản lý kinh tế, cả ở tầm vĩ mô của nền kinh tế quốc dân cũng như ở tầm vi mô của doanh nghiệp.
Về phương diện học thuật, kế toán có thể được phân loại theo các tiêu chí khác nhau. Điều này giúp cho việc nhận thức đầy đủ hơn về nội dung, mục đích, phạm vi của từng loại kế toán. Một cách khái quát, có thể hình dung rằng kế toán được phân loại dựa vào 6 các tiêu chí cơ bản sau đây: Thứ nhất, nếu dựa vào bản chất của hoạt động kế toán, có thể phân chia thành các hình thức kế toán sau đây: Kế toán tài chính là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính bằng báo cáo tài chính cho các đối tượng sử dụng thông tin của đơn vị kế toán [8, tr. Kế toán tài chính phản ánh thực trạng và các biến động về vốn, tài sản của DN dưới dạng tổng quát hay phản ánh các dòng vật chất và dòng tiền tệ trong mối quan hệ giữu DN với môi trường kinh tế bên ngoài.
Kế toán tài chính cung cấp thông tin chủ yếu cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp, do đó để đảm bảo tính khách quan, thống nhất thì phải tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực và chế độ hiện hành về kế toán của từng quốc gia. Kế toán tài chính mang tính pháp lệnh, nghĩa là nếu muốn được thừa nhận thì kế toán tài chính phải được tổ chức ở tất cả các đơn vị kế toán và hệ thống sổ ghi chép, trình bày và cung cấp thông tin đều phải tuân thủ các quy định thống nhất. Thông tin của kế toán tài chính cung cấp là những thông tin thực hiện về những hoạt động đã phát sinh, đã xảy ra mang tính tổng hợp thể hiện dưới hình thái giá trị. Báo cáo của kế toán tài chính là các BCTC tổng quát về sản lượng, kết quả hoạt động kinh doanh của DN trong một thời kỳ báo cáo được thực hiện theo định kỳ thường là hàng năm.
Các báo cáo này ngoài việc sử dụng cho ban lãnh đạo doanh nghiệp còn được cung cấp cho các đối tượng bên ngoài khác như: các nhà đầu tư, ngân hàng, các cơ quan tài chính, cơ quan thuế… Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán [8, tr. Kế toán quản trị hay kế toán quản lý đưa ra tất cả các thông tin kinh tế, đặc biệt là các thông tin về thực trạng tài chính của DN. Qua đó giúp các nhà quản lý doanh nghiệp ra quyết định điều hành một cách tối ưu nhất. Xét theo nội dung các thông tin mà kế toán quản trị cung cấp, có thể khái quát kế toán quản trị bao gồm: 7 (i) Kế toán quản trị các yếu tố sản xuất kinh doanh (mua sắm, sử dụng các đối tượng lao động, hàng tồn kho, tư liệu lao động – TSCĐ, tuyển dụng và sử dụng lao động – lao động và tiền lương…); (ii) Kế toán quản trị về chi phí và giá thành sản phẩm (nhận diện sản phẩm, phân loại chi phí, lập dự toán chi phí, tập hợp, tính toán, phân bổ chi phí, giá thành, lập báo cáo phân tích chi phí theo bộ phận, theo các tình huống quyết định.); (iii) Kế toán quản trị về doanh thu và kết quả kinh doanh (phân loại doanh thu, xác định giá bán, lập dự toán, tính toán và hạch toán chi tiết doanh thu, phân bổ chi phí chung, xác định kết quả và lập báo cáo phân tích kết quả chi tiết theo bộ phận, theo các tình huống ra quyết định.); (iv) Kế toán quản trị các khoản nợ; (v) Kế toán quản trị các hoạt động đầu tư tài chính; (vi) Kế toán quản trị các hoạt động khác của doanh nghiệp.
Xét theo quá trình kế toán quản trị trong mối quan hệ với chức năng quản lý, kế toán quản trị bao gồm: (i) Chính thức hóa các mục tiêu của đơn vị thành các chỉ tiêu kinh tế; (ii) Lập dự toán chung và các dự toán chi tiết; (iii) Thu thập, cung cấp thông tin về kết quả thực hiện các mục tiêu; (iv) Soạn thảo báo cáo kế toán quản trị. Thông tin của kế toán quản trị không chỉ là thông tin quá khứ (thông tin thực hiện) mà còn bao gồm các thông tin về tương lai (kế hoạch, dự toán, dự tính…). Mặt khác, thông tin kế toán quản trị không chỉ là các thông tin về giá trị mà còn bao gồm các thông tin khác (hiện vật, thời gian lao động…). Thông tin của kế toán quản trị đặc biệt quan trọng trong vận hành doanh nghiệp, cụ thể như việc giúp ban lãnh đạo ra quyết định lựa chọn một trong những phương án có hiệu quả kinh tế cao nhất như phải sản xuất những sản phẩm nào, sản xuất bằng cách nào, bán các sản phẩm đó như thế nào, giá bao nhiêu, làm thế nào để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và phát triển khả năng sản xuất, đồng thời phục vụ việc kiểm soát và đánh giá doanh nghiệp đó.
Như vậy, giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị có những điểm giống 8 và khác nhau như sau: - Giống nhau: Kế toán quản trị và kế toán tài chính đều đề cấp đến các sự kiện kinh tế trong doanh nghiệp và đều quan tâm đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động, quá trình lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp. Một bên phản ảnh tổng quát, một bên phản ảnh cụ thể, chi tiết của sự tổng quát đó. Ngoài ra, kế toán quản trị và kế toán tài chính đều dựa trên những ghi chép ban đầu của kế toán; kế toán quản trị và kế toán tài chính đều biểu hiện trách nhiệm của người quản lý và đều là công cụ quản lý doanh nghiệp. - Khác nhau: Một là, về đối tượng sử dụng thông tin, đối tượng sử dụng thông tin của kế toán quản trị là các thành viên bên trong doanh nghiệp: Ban giám đốc, chủ sở hữu, Trưởng bộ phận.