Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 1. Lý luận về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nông nghiệp 1. Khái niệm, đặc điểm của quyền sử dụng đất nông nghiệp Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mọi quốc gia, là tư liệu sản xuất quan trọng và chủ yếu của ngành sản xuất, các lĩnh vực của đời sống, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp.Việt Nam hiện nay vẫn là nền kinh tế nông nghiệp, nông nghiệp chiếm vị trí trọng yếu trong nền kinh tế quốc dân. Trong toàn bộ hoạt động vật chất của con người, sản xuất nông nghiệp giữ một vị trí quan trọng.
Việt Nam là một quốc gia trong vùng nhiệt đới, có nhiều thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp. Trong nhiều thập kỷ tới, nông nghiệp vẫn còn là một ngành kinh tế quan trọng ở nước ta. Đặc điểm lớn nhất của sản xuất nông nghiệp là gắn chặt với các điều kiện tự nhiên như đất đai, khí hậu, nguồn nước.Trong các điều kiện đó, đất đai là cơ sở đầu tiên không thể thiếu được và là tư liệu sản xuất chủ yếu. Hoạt động lao động của con người bao giờ cũng gắn chặt với đối tượng lao động và tư liệu lao động.
Đối tượng lao động là vật hoặc những vật mà hoạt động của con người tác động vào. Còn tư liệu lao động là những phương tiện vật chất mà nhờ đó, con người tác động vào đối tượng lao động. Đất đai tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động. Vì vậy, đất đai trở thành một loại tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được, đất đai được coi là nguồn gốc của mọi của cải.
Theo cách hiểu truyền thống của người Việt Nam, đất nông nghiệp là đất được sử dụng vào mục các mục đích trồng lúa, cây hoa màu như ngô, khoai, sắn …. Tuy nhiên trên thực tế việc khai thác và sử dụng đất nông nghiệp 8 không chỉ bó hẹp trong phạm vi trên mà được người sử dụng khai thác và sử dụng mở rộng với nhiều mục đích khác nhau như trồng các loại cây lâu năm có giá trị, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản …1 Dưới góc độ pháp lý, trước Luật Đất đai năm 1987, các văn bản pháp luật quy định về chế độ pháp lý về đất đai ở nước ta chia đất đai thành 4 loại: đất nông nghiệp; đất lâm nghiệp; đất chuyên dùng và đất khác. Đất nông nghiệp được hiểu là đất trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm như cao su, cà phê, chè, một số cây làm thuốc…. bao gồm cả vườn, ao, thổ canh, đồng cỏ dùng cho chăn nuôi, và cùng có mặt nước dùng vào việc nuôi trồng thuỷ sản.
Đến Luật Đất đai năm 1987 được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 12 năm 1987 quy định đất đai được phân thành 5 loại: đất nông nghiệp; đất lâm nghiệp; đất khu dân cư; đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng. Luật Đất đai năm 1993 được Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 7 năm 1993, tại Điều 11 quy định đất đai được chia thành 6 loại: đất nông nghiệp; đất lâm nghiệp; đất khu dân cư nông thôn; đất đô thị; đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng. Trong đó, đất nông nghiệp là đất được xác định là đất chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp2. Điều 2 Nghị định số 64/CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 quy định: "Đất nông nghiệp giao cho hộ gia đình, cá nhân vào mục đích sản xuất nông nghiệp bao gồm đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản…".
Tuy nhiên, với khái niệm này đã không bao quát hết các loại đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp trong khi thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta vì để xây dựng một nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa cần khuyến khích mô hình kinh tế trang trại, HGĐ phát triển. Thực tế cho thấy các trang trại, gia đình sản xuất kinh doanh giỏi đều thực hiện phương thức kinh doanh 1 Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật đất đai, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội/ 2 Điều 42 Luật đất đai năm 1993. 9 tổng hợp (kết hợp nông, lâm, ngư) nhằm khai thác, phát huyên mọi tiềm năng của đất đai và sức lao động. Ranh giới phân biệt đất nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng bị xóa nhòa.
Hơn nữa, cách phân loại đất này dựa vào tiêu chí mục đích sử dụng chủ yếu, vừa căn cứ vào địa bàn sử dụng đất, không có sự tách bạch về mặt pháp lý gây cho khó khăn cho công tác quản lý đất đai. Để khắc phục hạn chế đó, Luật Đất đai năm 2003 và Luật đất đai 2013 đã chia đất đai làm ba nhóm bao gồm: nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng; cách phân loại dựa trên tiêu chí duy nhất là mục đích sử dụng chủ yếu của đất đã giúp tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng đất thực hiện các quyền của mình trong quá trình sử dụng đất cũng như cho các cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý đất đai. Khái niệm đất nông nghiệp đã được mở rộng với tên gọi “nhóm đất nông nghiệp”. Luật Đất đai năm 2003 và Nghị định hướng dẫn thi hành không đưa ra khái niệm cụ thể mà liệt kê các loại đất thuộc nhóm đất nông nghiệp bao gồm: a) Đất trồng cây hàng năm gồm đất lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác; b) Đất trồng cây lâu năm (gọi chung là đất sản xuất nông nghiệp); c) Đất rừng sản xuất; d) Đất rừng phòng hộ; đ) Đất rừng đặc dụng (gọi chung là đất lâm nghiệp); e) Đất nuôi trồng thủy sản; g) Đất làm muối; h) (viii) Đất nông nghiệp khác bao gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh.
Cách quy định như trên đảm bảo sự thống nhất trong hoạt động quản lí đất đai của Nhà nước bởi trong nhóm đất nông nghiệp có nhiều loại đất có cùng đặc tính sử dụng và có sự kết hợp 10 được với nhau và cũng giúp cho người sử dụng đất có thể khai thác đất đai tối đa hiệu quả sử dụng đất. Như vậy từ phân tích trên, có thể hiểu “đất nông nghiệp là tổng thể các loại đất có đặc tính sử dụng giống nhau, với tư cách là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, khoanh nuôi tu bổ bảo vệ rừng, nghiên cứu thí nghiệm về nông, lâm nghiệp” * Đặc điểm đất nông nghiệp Đất nông nghiệp bên cạnh những đặc điểm chung của đất đai, như: tài sản không do con người tạo ra, có trước con người; tính cố định và không thể di dời,. còn có những đặc trưng riêng sau đây: Thứ nhất, đất nông nghiệp là loại đất mà giá trị sử dụng phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng đất đai, độ màu mỡ phì nhiêu của đất. Đối với đất nông nghiệp, do sử dụng làm tư liệu sản xuất, nên giá trị của loại đất này lại phụ thuộc vào các yếu tố nông, hóa, thổ nhưỡng như độ phì nhiêu, tầng dày của lớp đất mặt, độ dốc, độ PH (độ chua) v.
Độ phì hay độ màu mỡ là một thuộc tính tự nhiên của đất nông nghiệp và là yếu tố quyết định chất lượng của đất. Đây là một đặc trưng riêng biệt của đất nông nghiệp, giúp cho cây trồng được phát triển dựa trên những thuộc tính tự nhiên của đất. Đặc biệt, đặc trưng này của đất nông nghiệp là minh chứng rõ ràng cho câu hỏi tại sao trong các quy định của pháp luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định ưu tiên, bảo vệ và phát triển quỹ đất nông nghiệp; đặc biệt là đất trồng lúa nước được Nhà nước quy định hết sức nghiêm ngặt, với chủ trương hạn chế thu hồi để đảm bảo đời sống ngừoi dân và an ninh lương thực quốc gia. 11 Thứ hai, đất nông nghiệp được sử dụng làm tư liệu sản xuất trực tiếp và quan trọng, không thể thay thế được trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và làm muối.
Như đã phân tích, đất nông nghiệp là tổng thể của nhiều loại đất được sử dụng trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, như: trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng các loại cây ăn quả hay các loại cây lâu năm…. Với hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiêm, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối thì đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất quan trọng và không thể thay thế như các ngành, lĩnh vực khác. Trên thực tế, việc xác định cụ thể đất được sử dụng cho mục đích "chủ yếu" là sản xuất nông nghiệp sẽ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thực hiện các giao dịch về chuyển QSDĐ bởi vì đối với đất nông nghiệp – đặc biệt là đất trồng lúa sẽ có nhiều hạn chế hơn. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nông nghiệp Hợp đồng dân sự là một trong những phương thức phổ biến khi con người tham gia các quan hệ xã hội khác nhau, nhằm chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất đáp ứng các yêu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng hàng ngày như: mua bán, vay mượn, cầm cố, thế chấp tặng cho tài sản.
Xét về bản chất: Hợp đồng tặng cho tài sản có thể là hợp đồng thực tế. Hợp đồng được coi là đã ký kết khi các bên chuyển giao tài sản, thời điểm chuyển giao tài sản cũng đồng thời là thời điểm chấm dứt hợp đồng, dù hai bên đã thỏa thuận cụ thể về đối tượng tặng cho (là tiền hoặc là tài sản), điều kiện và thời gian giao tài sản tặng cho, nhưng nếu bên tặng cho chưa giao tiền hoặc tài sản cho bên được tặng cho, thì hợp đồng tặng cho tài sản chưa được coi là xác lập.