Lời mở đầu, ba chƣơng, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. Chƣơng 1: Một số vấn đề chung về hải quan và pháp luật về hải quan Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật hải quan Việt Nam Chƣơng 3: Những yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế và một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hải quan 7 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HẢI QUAN VÀ PHÁP LUẬT VỀ HẢI QUAN 1.1/ Sơ lƣợc sự ra đời của Hải quan và bản chất của Hải quan Trong các tác phẩm kinh điển, khi phân tích về nguồn gốc của nhà nƣớc, về sở hữu tƣ nhân, về sự hình thành và phát triển của quan hệ sản xuất qua các hình thái kinh tế xã hội; Các Mác - Ăng Ghen - Lê Nin đã chỉ rõ, hoạt động hải quan xuất hiện cùng với sự xuất hiện của sản xuất hàng hoá. Cơ sở kinh tế - xã hội của sự ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hoá là phân công lao động xã hội, và sự tách biệt về kinh tế giữa ngƣời sản xuất này với ngƣời sản xuất khác, do các quan hệ sở hữu khác nhau về tƣ liệu sản xuất quy định. Do phân công lao động xã hội nên mỗi ngƣời chỉ sản xuất một hay một vài sản phẩm nhất định.
Song, nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của mỗi ngƣời cần có nhiều loại sản phẩm, đòi hỏi họ phải có mối liên hệ trao đổi sản phẩm cho nhau, phụ thuộc vào nhau. Do chế độ tƣ hữu về tƣ liệu sản xuất, mà ngƣời chủ tƣ liệu sản xuất có quyền quyết định việc sử dụng tƣ liệu sản xuất và những sản phẩm do họ sản xuất ra; ngƣời sản xuất này muốn sử dụng sản phẩm của ngƣời sản xuất khác thì phải thông qua trao đổi sản phẩm lao động cho nhau dƣới hình thức mua - bán. Cùng với nền sản xuất hàng hoá, dần dần xuất hiện “Giai cấp, đã không còn tham gia sản xuất, mà chỉ làm việc trao đổi hàng hoá, đó chính là các thƣơng gia”[1,165] Sự xuất hiện của tầng lớp thƣơng gia “Đã tạo khả năng xuất hiện các quan hệ thƣơng mại vƣợt ra ngoài phạm vi của các địa bàn gần nhất, mà việc thực hiện nó phụ thuộc vào các phƣơng tiện giao thông hiện có, vào tình trạng an toàn xã hội trên các con đƣờng đƣợc đảm bảo bằng các quan hệ chính trị, 8 vào các nhu cầu ít hay nhiều tuỳ thuộc vào mức độ phát triển tại các vùng mà các quan hệ đó có thể với tới đƣợc”. [2,52-53] Việc di chuyển của các thƣơng đoàn thƣờng không an toàn mà các di tích lịch sử của Ai Cập cổ đại (thế kỷ XVI - XII TCN) đã cho thấy bằng chứng của các vụ cƣớp bóc cũng nhƣ các khiếu nại của các thƣơng nhân.
Do vậy duy trì một đội ngũ bảo vệ là một gánh nặng về kinh tế và không phải khi nào cũng có hiệu quả đối với các thƣơng nhân. Cho nên họ đã tìm một giải pháp khác thay cho chi phí để nuôi dƣỡng đội ngũ bảo vệ đắt tiền, đó là chi một loại thuế đặc biệt - tiền thân của thuế quan “Thuế hải quan phát sinh từ các khoản thu mà các lãnh chúa phong kiến thu của các thƣơng nhân đi qua lãnh địa của họ, để bằng cách đó thoát khỏi việc bị cƣớp bóc, các khoản thu này về sau cũng đƣợc thu bởi các thành phố và khi xuất hiện các nhà nƣớc hiện đại thì chúng trở thành phƣơng tiện thuận tiện nhất để thu tiền cho ngân khố” [2,57] Sự hình thành các quốc gia độc lập là điều kiện chính trị cho việc xuất hiện chính sách hải quan. Xã hội cộng sản nguyên thuỷ tan rã, giai cấp chủ nô ra đời; họ tìm cách chiếm đoạt lao động của các thành viên khác trong xã hội và thúc đẩy sự phát triển của nghề thủ công, buôn bán, đẩy nhanh sự tách biệt giữa thành thị và nông thôn, “Cùng với các thành thị đã xuất hiện yêu cầu quản lý, cảnh sát, thuế khoá. Để duy trì bộ máy nhà nƣớc, giới chủ nô đã thu các loại thuế và thu khác từ việc buôn bán và từ việc vận chuyển quá cảnh hàng hoá.
Tại Ba Bi Lon, quốc gia trung tâm kinh tế và văn hoá của thế giới thời cổ đại, mọi hàng hoá đƣa vào đều bị kiểm tra và đều phải nộp thuế. Thời kỳ đó hoạt động hải quan phát triển nhất là ở Hy Lạp cổ đại, đó là do hoàn cảnh địa lý của đất nƣớc này không mấy thuận lợi, ngƣời dân sinh sống chủ yếu dựa vào buôn bán; họ phải nhập lúa mì từ Ai Cập và vùng Hắc Hải.; thuế hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu đƣợc quy định bằng 1/10 trị 9 giá hàng hoá, sau này ngƣời ta nhận thấy thu thuế nhẹ hơn sẽ thúc đẩy thƣơng mại, từ đó thu lợi đƣợc nhiều hơn, do đó họ giảm dần thuế, thậm chí chỉ còn 1/100 trị giá hàng hoá; một số hàng hoá nhập khẩu nhƣ vũ khí, trang thiết bị quân sự đƣợc miễn thuế; các đồng minh của Hy Lạp đƣợc hƣởng ƣu đãi thuế quan.[96,27] Thu thuế hải quan đƣợc tiến hành tại các cảng biển, các chợ thành thị và tại các trạm thuế quan trên biên giới đƣờng bộ; thuế hải quan thƣờng đƣợc thu nộp bằng vàng hoặc bạc. ở Hy Lạp cổ đại, việc thu thuế quan đƣợc giao khoán cho những công dân nổi tiếng, hàng năm họ phải nộp cho nhà nƣớc một khoản tiền nhất định và đƣợc hƣởng phần thu vƣợt, nếu chƣa nộp đƣợc họ có thể đƣợc tạm hoãn, nếu không hoàn thành nghĩa vụ giao nộp thì có thể bị phạt tù. Vào thế kỷ XII - XIII, với xu hƣớng dần dần nới rộng quan hệ kinh tế giữa các thành phố và các công quốc.
Chính sách thuế quan cũng đƣợc chuyển theo hƣớng tạo ra một hệ thống thuế quan chung trên biên giới phía ngoài của quốc gia. Tuy nhiên quá trình thống nhất hoá luật lệ hải quan ở các quốc gia diễn ra trong một thời gian dài; Anh và Scotland diễn ra vào năm 1707; Anh và Irland năm 1823; tại Pháp chế độ hải quan thống nhất vào năm 1790; nƣớc Áo hình thành chính sách hải quan chung của mình vào năm 1775-1851; ở Italia hàng rào thuế quan giữa các vùng chỉ biến mất vào năm 1859; còn nƣớc Đức quá trình thống nhất thuế quan diễn ra suốt từ năm 1842 đến 1888.[93,5] Trong thời kỳ này các quốc gia can thiệp rất tích cực vào ngoại thƣơng, đặt ra các luật lệ thúc đẩy việc tích luỹ tiền tệ cho ngân khố, nhƣ việc đƣa ra các quy định hàng hoá chỉ đƣợc đi qua những địa điểm nhất định, để tiện cho việc kiểm soát và thu thuế quan. Nói chung, luật lệ hải quan thời kỳ này chỉ đơn thuần mang tính chất tài chính và tính chất thuế đánh vào hàng hoá nhập khẩu cũng giống nhƣ hàng 10 hoá xuất khẩu. Nhƣ ở Pháp, luật thuế quan năm 1664 có tới 700 điều quy định việc nhập khẩu hàng hoá và 900 điều quy định đối với việc xuất khẩu hàng hoá, cho thấy luật lệ hải quan thời kỳ này đã đƣợc quy định chi tiết nhƣ thế nào.
Từ cuối thế kỷ XVII, xuất hiện xu hƣớng bảo hộ giữa các quốc gia, nhiều đạo luật đã đƣợc thông qua để hạn chế nhập khẩu hàng hoá của các nƣớc khác và khuyến khích xuất khẩu hàng hoá trong nƣớc; nhƣ Luật Hàng hải Cromwel năm 1651 của Anh quy định về việc hàng hoá nhập vào Anh, nếu chở bằng tàu của nƣớc khác sẽ bị đánh thuế gấp đôi so với chở bằng tàu nƣớc Anh. Các quốc gia châu Âu cũng ban hành các luật lệ bảo hộ không chỉ thƣơng mại mà còn sản xuất nữa. Về vấn đề này Mác và Ăng ghen đã viết: “ Cùng với sự xuất hiện của các công xƣởng, các dân tộc khác nhau đã bắt đầu cạnh tranh với nhau, tiến hành các cuộc đấu tranh thƣơng mại, với sự giúp đỡ của các cuộc chiến tranh, các loại thuế bảo hộ và các hệ thống cấm đoán, trong khi đó trƣớc kia các dân tộc đó do quan hệ với nhau nên đã tiến hành việc trao đổi một cách hoà bình. Từ nay thƣơng mại đã mang tính chất chính trị” [2,56] Năm 1650, nƣớc Anh ban hành luật cấm ngƣời nƣớc ngoài buôn bán tại các nƣớc thuộc địa của Anh nếu không đƣọc chính phủ Anh cho phép.
Nƣớc Pháp, vào các năm từ 1815 đã ban hành các luật lệ bảo hộ, phải đến những năm 60 của thế kỷ đó mới chuyển sang hƣớng tự do hoá thƣơng mại. Tại nƣớc Đức, mƣời tám công quốc do nƣớc Phổ đứng đầu đã thành lập liên minh thuế quan, bỏ hết các hàng rào thuế quan trong nội địa, tạo nên một thị trƣờng thống nhất. Nói tóm lại, hoạt động hải quan đã xuất hiện từ lâu đời, từ khi có sự phân công lao động và sản xuất hàng hoá, hoạt động hải quan gắn liền với sự xuất hiện nhu cầu trao đổi hàng hoá. Để bảo vệ lợi ích của mình, mỗi cộng 11 đồng đã tự quy định những biện pháp có lợi nhất cho mình trong việc kiểm soát trao đổi hàng hoá để bảo vệ sản xuất, đồng thời thu được lợi nhiều nhất trong quan hệ với các cộng đồng khác; đó chính là bản chất của hoạt động hải quan.
Có thể nói không có trao đổi hàng hoá giữa các cộng đồng dân cƣ, ngày nay là giữa các quốc gia, thì không có hoạt động hải quan. Hiện nay, cơ quan hải quan của các nƣớc, bên cạnh các chức năng truyền thống nhƣ kiểm tra hàng hoá, thu thuế, đấu tranh chống buôn lậu., còn có nhiệm vụ kiểm tra việc thực hiện các nghĩa vụ về bằng phát minh sáng chế, các luật lệ về tài chính, hạn nghạch xuất nhập khẩu.; chẳng hạn, Hải quan Hoa Kỳ có các nhiệm vụ: tính và thu thuế hải quan, các loại phí và lệ phí, các loại tiền phạt đánh vào hàng hoá xuất nhập khẩu; thực hiện việc kiểm tra các phƣơng tiện vận tải, kiểm tra ngƣời và hành lý nhập cảnh vào Hoa Kỳ; hợp tác với các cơ quan liên bang khác trong việc ngăn chặn vận chuyển ma tuý, dƣợc phẩm bị cấm, tranh ảnh đồi truỵ; yêu cầu cung cấp các số liệu trên cơ sở Luật về bí mật hoạt động ngân hàng; thực hiện kiểm tra việc tuân thủ một số luật lệ về các quy tắc và trật tự giao thông hàng hải; bảo đảm việc tuân thủ các quy định về bản quyền tác giả, nhãn mác thƣơng mại.