Chương 1 PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH CỦA CÁC HỘ KINH DOANH 1. Quá trình phát triển của hộ kinh doanh Thuật ngữ “hộ kinh doanh” chính thức được sử dụng tại các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam từ năm 2006. Trong những năm trước đây, hộ kinh doanh được gọi bằng các tên khác nhau như tổ chức tiểu sản xuất hàng hóa; hộ cá thể, hộ tiểu công nghiệp; hộ kinh doanh cá thể;… và thay đổi theo từng thời kỳ. Trước Đổi mới (trước năm 1986), hộ kinh doanh tồn tại dưới hình thức tổ chức tiểu sản xuất hàng hoá (gồm các thợ thủ công, nông dân cá thể, người làm dịch vụ nhỏ) được kinh doanh sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy môn bài.
Tuy nhiên, do việc thực hiện cải cách xã hội chủ nghĩa và vận động cho một chính sách kinh tế xã hội chủ nghĩa đóng vai trò then chốt trong nền kinh tế, khu vực kinh tế của sản xuất trong giai đoạn này chỉ có tỷ lệ khá khiêm tốn. Trong giai đoạn từ năm 1986 đến nay cùng với chủ trương, chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, hộ kinh doanh đã phát triển mạnh mẽ, thể hiện: Thứ nhất, trước khi có Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty (năm 1990), hộ kinh doanh tồn tại dưới hình thức hộ cá thể. Hộ cá thể do Uỷ ban nhân dân phường, xã xét cấp đăng ký kinh doanh và hộ tiểu công 7 nghiệp. Hộ tiểu công nghiệp (xưởng, cửa hàng,.) có tư liệu sản xuất và các vốn khác thuộc sở hữu của chủ hộ; được thuê mướn lao động theo hợp đồng thoả thuận giữa chủ và người làm thuê; chủ hộ là người lao động trực tiếp hoặc đóng vai trò chính về kỹ thuật sản xuất và tự điều hành sản xuất kinh doanh; thu nhập sau khi đóng thuế và trả công cho người làm thuê thuộc sở hữu của chủ hộ [37].
Hộ tiểu thủ công nghiệp do Uỷ ban nhân dân quận, huyện xét cấp đăng ký kinh doanh và được chính thức công nhận bằng Nghị định số 27-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Trong giai đoạn này, do điều kiện lịch sử và bối cảnh kinh tế - xã hội cùng với danh mục cấm kinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện theo quy định của pháp luật rất rộng nên sự phát triển của các hộ cá thể, hộ tiểu công nghiệp còn chậm. Thứ hai, trong giai đoạn từ khi ban hành Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty (năm 1990) đến trước khi ban hành Luật Doanh nghiệp 1999, hộ kinh doanh tồn tại dưới hình thức người kinh doanh (gồm các cá nhân, nhóm người kinh doanh dưới vốn pháp định) theo quy định tại Nghị định số 66/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Nghị định này quy định về quyền, nghĩa vụ của người kinh doanh; về nội dung, trình tự, thủ tục đăng ký, thay đổi, tạm ngừng, chấm dứt kinh doanh của loại hình này.
Điểm đáng chú ý là, Nghị định này quy định người kinh doanh không bị giới hạn trong việc thuê mướn số lượng lao động [37]. Thứ ba, trong giai đoạn từ khi ban hành Luật Doanh nghiệp năm 1999 đến trước khi ban hành Luật Doanh nghiệp 2005, hộ kinh doanh tồn tại dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ theo quy định tại Nghị định số 02/2000/NĐ-CP của Chính phủ. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân quy 8 định không cho phép hộ kinh doanh được thường xuyên thuê lao động không phù hợp với thực tiễn hoạt động của hộ kinh doanh. Vì vậy, để tạo điều kiện cho hộ kinh doanh cá thể phát triển, ngày 02 tháng 04 năm 2004 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2004/ NĐ-CP về đăng ký kinh doanh; trong đó đã bãi bỏ quy định hộ kinh doanh không được thường xuyên thuê lao động [37].
Điều 24 Nghị định số 109/2004/NĐ-CP quy định “hộ kinh doanh cá thể được thuê không quá mười lao động. Hộ kinh doanh cá thể có sử dụng trên mười lao động hoặc có hơn một địa điểm kinh doanh phải chuyển đổi thành doanh nghiệp”. Thứ tư, trong giai đoạn từ khi ban hành Luật Doanh nghiệp 2005 đến nay, với các nghị định hướ ng dẫn Luật Doanh nghiệp 2005. Nghị định số 88/2006/NĐ-CP năm 2006, Nghị định số 43/2010/NĐ-CP năm 2010, Luật Doanh nghiệp 2014, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP năm 2015, hộ kinh doanh cá thể được đổi tên thành hộ kinh doanh, bổ sung đối tượng một nhóm người làm chủ hộ kinh doanh và sửa đổi quy định việc yêu cầu các hộ kinh doanh sử dụng từ mười lao động phải chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức doanh nghiệp.
Bên cạnh việc đổi tên hộ kinh doanh theo từng thời kỳ, nhiều cơ chế, chính sách đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc hình thành và phát triển của hộ kinh doanh. Nhờ đó, thị trường đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của hộ kinh doanh. Theo Tổng cục Thống kê, năm 1999 cả nước có hơn 1,5 triệu hộ kinh doanh sử dụng hơn 3 triệu lao động, đến năm 2017, số hộ kinh doanh đã tăng lên trên 5,14 triệu, sử dụng khoảng 8,58 triệu lao động [37]. Như vậy, hộ kinh doanh là giải pháp cần thiết và tất yếu thay thế cho thành phần kinh tế tư bản tư nhân, vì trong rất nhiều năm trước đó, pháp luật không khuyến khích.
Từ năm 2000, đặc biệt là từ năm 2006 và 2014 trở đi, mọi điều kiện thành lập và hoạt động của doanh nghiệp nói chung, doanh 9 nghiệp tư nhân nói riêng đã được xoá bỏ (Các Luật Doanh nghiệp năm 1999, 2005 và 2014). Điều kiện thành lập doanh nghiệp tư nhân và công ty gần như bằng không và không khác gì với việc thành lập hộ kinh doanh. Đặc biệt là việc Luật Doanh nghiệp năm 2005 và 2014 cho phép thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân. Do đó, hộ kinh doanh đã thật sự hết lý do, vai trò lịch sử.
Còn sự tồn tại và phát triển như là doanh nghiệp mà không được thừa nhận là doanh nghiệp chỉ là do sự khiếm khuyết của pháp luật. Tuy nhiên, vì các Luật Doanh nghiệp năm 1999, 2005, 2014 và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan khác vẫn tiếp tục quy định về hộ kinh doanh một cách quá đơn giản, nên đương nhiên đã trở thành sự lựa chọn chủ yếu trên thực tế. Việc một người có nhiều công ty là chuyện bình thường, nhưng một người đồng thời duy trì hai loại hình kinh doanh là công ty và hộ kinh doanh là điều pháp luật cần phải nghiên cứu điều chỉnh. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của hộ kinh doanh 1.
Khái niệm hộ kinh doanh Ở một số quốc gia phát triển trên thế giới chỉ có quy định về hộ kinh doanh do cá nhân làm chủ với nhiều khái niệm khác nhau như doanh nghiệp một chủ (one-man business), thương nhân cá thể (sole trader) hoặc doanh nghiệp cá thể (sole proprietorship). Để hiểu rõ hơn về khái niệm “hộ kinh doanh”ở Việt Nam, trước hết cần tìm hiểu thêm về thuật ngữ “hộ gia đình”. Hộ gia đình đã được để cập đến trong các văn bản quy phạm pháp luật từ năm 1964 ví dụ như tại khoản 6, Điều 29, Luật Nghĩa vụ quân sự năm 1981 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 1990). Hộ gia đình được nhắc đến với tư cách là chủ thể của quan hệ dân sự bắt đầu từ Luật Đất đai năm 1993 khi quy định hộ gia đình là một trong những chủ thể sử dụng đất bên cạnh các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội và cá nhân.
Và tiếp tục tại 10 Điều 116 Bộ luật dân sự năm 1995 đã ghi nhận hộ gia đình là một chủ thể của quan hệ dân sự. Chủ thể hộ gia đình được ghi nhận tại Điều 106 Bộ luật dân sự năm 2005 như sau: “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc lĩnh vự c này”. Ngoài ra, Luật Đất đai sửa đổi bổ sung năm 2013 cũng ghi nhận “tư cách” chủ thể của hộ gia đình trong các quan hệ về quyền sử dụng đất hay sản xuất nông nghiệp. Điều này có nghĩa rằng Bộ luật Dân sự và một số văn bản khác đã ghi nhận sự tồn tại khách quan của kinh tế hộ gia đình với tư cách là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và một số ngành nghề khác.
Trong giai đoạn phát triển của nước ta hiện nay, hộ gia đình đang được coi là đối tượng đầu tư chủ của các Ngân hàng, các tổ chức tín dụng. Số lượng giao dịch tài chính, tín dụng giữa các hộ gia đình và ngân hàng, các tổ chức tín dụng ngày càng gia tăng. Do vậy, khi xác định chủ thể thành viên hộ gia đình, Bộ luật dân sự trước kia và một số quy định pháp luật có liên quan luôn coi hộ gia đình là chủ thể đặc biệt, bởi vì, hộ gia đình được hiểu là các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định. Kinh tế hộ gia đình nhìn chung là sản xuất, buôn bán nhỏ, mang tính tự cấp, tự túc hoặc sản xuất hàng hóa với năng suất lao động thấp nhưng lại có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam đã xuất hiện và tồn tại hàng nghìn năm và vẫn sẽ là đơn vị cơ bản trong xã hội và trong phát triển sản xuất nông nghiệp. 11 Các hoạt động kinh tế hộ gia đình ngày càng đa dạng và phát triển. Để tăng năng suất lao động và mở rộng phạm vi sản xuất ra ngoài hộ gia đình, các hộ gia đình khi đó sẽ thực hiện các thủ tục tham gia vào thị trường kinh doanh. Từ bản chất ban đầu là kinh tế hộ gia đình, khi có đủ điều kiện, hộ gia đình sẽ được nhà nước cho phép đăng ký ngành nghề kinh doanh và đi vào hoạt động kinh doanh với tên gọi là hộ kinh doanh như các loại hình doanh nghiệp khác.