Chương I: Đặc điểm của Luật phá sản doanh nghiệp Việt Nam: Trong chương này, tác giả tập trung phân tích những nội dung cơ bản của Luật phá sản doanh nghiệp Việt Nam , đồng thời thông qua việc so sánh với một số đạo Luật phá sản của một số nước trên thế giới, tác giả góp phần làm rõ những đặc điểm đặc thù của Luật phá sản doanh nghiệp Việt Nam. Chương II : Tình hình thi hành Luật phá sản doanh nghiệp và những vấn đề phát sinh : Trong chương này, tác giả tập trung vào giải quyết những vấn để sau: 1. Thực trạng về hoạt động của các doanh nghiệp ở Việt Nam 2. Tình hình thực hiện Luật phá sản doanh nghiệp và một vài nhận xét ban đầu.
Những vấn dé phát sinh khi thực hiện Luật phá sản doanh nghiệp. Chung III : Một vài kiến nghị nhằm hoàn thiện Luật phá sản doanh nghiệp Việt Nam: Trong chương này tác giả nêu lên những kiến nghị được đúc rút ra từ quá trình nghiên cứu dé tài nhằm góp phần hoàn thiện Luật phá sadn và đảm bảo tính thực thi của nó. Cuối cùng là phần kết luận. Trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành bản luận án nay , tôi luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình , quý báu của các Thầy , các Cô thuộc Bộ Tư pháp , Trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là sự hướng dẫn, chỉ bảo cặn kẽ , chi tiết đầy tâm huyết của Thầy Dương Đăng Huệ - Người trực tiếp hướng dẫn khoa học cho tôi.
Nhân dip nay , tôi xin bay tỏ lòng biết ơn đối với Thầy Dương Đăng Huệ cùng tất cả các Thây, Cô , các bạn đồng môn và Toà Phúc thẩm Toà án Nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh , Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Toà án Nhân dân và Viện Kiểm sát Nhân dân Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tau , Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố Vũng Tàu và Thư viện tổng hợp Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Ving Tau, Thing OS wăư 1997 Người thực hiện LẠI ANH TUẤN CHUONG I ĐẶC ĐIỂM CUA LUAT PHA SAN DOANH NGHIỆP VIET NAM Nhằm đáp ứng nhu cầu khách quan của nền kinh tế thi trường , tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết một vấn dé kinh tế -xã hội phức tạp là vấn dé phá san doanh nghiệp , ngày 23-12-1993 Quốc hội nước ta đã ban hành Luật phá sản doanh nghiệp. Luật phá sản doanh nghiệp của ta về cơ bản có nhiều điểm giống với Luật phá sản của nhiều nước trên thế giới bởi vì Luật phá sản của bất cứ một nước nào cũng đều có mục đích như nhau , đó là quy định các diéu kiện để tuyên bố một doanh nghiệp phá sản , quy định cơ quan nào có thẩm quyển giải quyết phá san , ai có quyền làm đơn yêu cầu Toà án tuyên bố phá sản doanh nghiệp, trình tự thủ tục giải quyết một vụ phá sản , quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể tham gia giải quyết phá sản, thứ tự ưu tiên thanh toán từ tài sản phá sản. Tuy nhiên , bên cạnh những nội dung cơ bản đó , Luật phá sản của các nước là rất khác nhau do điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội , pháp lý của các nước là không giống nhau.
Việt Nam là một đất nước đặc thù. Xét trên nhiều phương diện , chúng ta có những điểm khác nhau rất cơ bản so với các nước trên thế giới. Vì vậy , Luật phá sản doanh nghiệp của nước ta tất yếu phải có những quy định đặc thù mà các nước khác không thể có được. Qua nghiên cứu Luật phá sản doanh nghiệp Việt Nam , chúng tôi cho rằng , Luật phá sản doanh nghiệp nước ta có một số đặc 22a ° điểm cơ bản như sau : I- Chỉ có doanh nghiệp mới có thể bị tuyên bố phá sản : Việc Luật phá sản áp dụng cho những đối tượng nào là phụ thuộc vào điều kiện , hoàn cảnh của mỗi nước.
Vì thế, phạm vi điều chỉnh của Luật phá sản ở các nước khác nhau thường không giống nhau. Qua nghiên cứu Luật phá sản của một số nước trên thế giới cho thấy, xét về phạm vi điều chỉnh có ba mức độ như sau: | Thứ nhất : Tất cả các cá nhân , pháp nhân, bất luận là nhà kinh doanh (thương gia) hay không là nhà kinh doanh , nếu không thanh toán được nợ đến hạn đều có thể bị tuyên bố phá sản ( Úc, Mỹ,.) Thứ hai : Chỉ có các nhà kinh doanh ( doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh) mới có thể bị tuyên bố phá sản ( Cộng hoà Liên bang Nga). Thứ ba : Chỉ có doanh nghiệp mới chịu sự chi phối của Luật phá sản (Việt Nam) Phạm vi áp dụng của Luật phá sản còn có thể được phân biệt theo tính chất của các món nợ. Ở Úc , Mỹ, tính chất nợ là dân sự hay thương mại không có ý nghĩa trong việc giải quyết phá sản.
Bất cứ ai, là thương gia hay không là thương gia , nợ vì kinh doanh hay nợ để tiêu dùng đều có thể bị tuyên bố phá sản nếu không thanh toán được nợ .Tuy nhiên, đa số các nước trên thế giới , trong đó có Việt nam đều qui định rằng, chế định phá sản chỉ áp dụng cho các thương gia khi họ không trả được các món nợ về thương mại( kinh doanh ) Xuất phát từ điều kiện , hoàn cảnh thực tế của Việt nam, tại điều 1 Luật phá sản doanh nghiệp quy định : “ luật này áp dụng đối với các doanh nghiệp thuộc mọi hình thức sở hữu được thành lập và hoạt động theo pháp luật nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt nam khi lâm vào tình trạng phá sản “. Điều 1 Nghị định 189/CP ngày 23/12/1994 đã cụ thể hoá điều 1 Luật phá sản doanh nghiệp bằng cách liệt kê 8 loại hình doanh nghiệp có thể bị tuyên bố phá sản. Đó là : - Doanh nghiệp tư nhân. - Công ty trách nhiệm hữu hạn.
- Công ty cổ phần. - Doanh nghiệp Nhà nước. -Xí nghiệp liên doanh. - Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài.
- Doanh nghiệp của các tổ chức chính trị xã hội. Như vậy, theo Luật phá sản doanh nghiệp Việt Nam thì chỉ có cơ sở sản xuất kinh doanh nào được gọi là doanh nghiệp mới có thể bị tuyên bố phá sản. Thế nào là doanh nghiệp ? các đặc điểm của chúng ra sao ? hiện nay chưa có khái niệm chung nhất về vấn đề này. Tuy nhiên, theo tôi, doanh nghiệp có các đặc điểm chủ yếu như sau: 1/La một tổ chức ( có cơ cấu tổ chức thống nhất bảo đảm cho doanh nghiệp , mặc dù là một tập hợp người nhưng vẫn được điều hành theo một ý chí thống nhất).
2/ Được thành lập một cách hợp pháp ( được Nhà nước quyết định thành lập hoặc được Nhà nước cho phép thành lập ) và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. - - 10 3/ Có sử dụng lao động làm thuê ở qui mô lớn. 4/ Mục đích thành lập là dé sản xuất, kinh doanh. Các cơ sở sản xuất kinh doanh khác hoạt động trên thương trường nhưng không được pháp luật gọi là doanh nghiệp thì không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật phá sản.
Đó là các cá nhân và nhóm kinh doanh hoạt động theo nghị định 66/ HDBT ngày 02/03/1992 của Hội đồng bộ trưởng ( nay là Chính phủ). Hiện nay, cũng chưa có định nghĩa cụ thể về cá nhân kinh doanh. Tuy nhiên, theo tôi, cá nhân kinh doanh có các đặc điểm chủ yếu sau : 1/Do một cá nhân làm chủ. 2/ Xin giấy phép kinh doanh ở Uỷ ban nhân dân cấp quận , huyện mà không phải xin phép thành lập và không phải đăng ký kinh doanh như đối với doanh nghiệp tư nhân.
3/ Chịu trách nhiệm vô hạn về các món nợ của mình. Trong thực tế , các cá nhân và nhóm kinh doanh này cũng chiếm một vị trí quan trọng , cũng gây ra những thiệt hại to lớn về kinh tế và chính họ cũng có thể bị mất khả năng thanh toán nợ đến hạn. Việc không thừa nhận các đối tượng của Nghị định 66/HDBT nêu trên thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật phá sản doanh nghiệp Việt nam là một vấn dé đang gây tranh luận ở nước ta hiện nay. Chính sự không thừa nhận này đã góp phần làm sâu sắc thêm sự phân biệt đối xử giữa các hình thức tổ chức kinh doanh mà lẽ ra chúng phải được bình đẳng.
Chính vì vậy , cần có cách giải quyết mới về các vấn dé này trong Luật phá sản doanh nghiệp. - - 11 Việc Luật phá san doanh nghiệp Việt nam qui định như trên là khác với thông lệ quốc tế về phá sản. Sở di qui định như vậy là vì khi xây dựng Luật phá sản , chúng ta cho rằng nên tập trung sự quan tâm vào các đối tượng là các doanh nghiệp , bởi lẽ đây là chủ thể kinh doanh chủ yếu trên thương trường. Một lý do khác nữa là do Toà kinh tế mới được thành lập nên nếu đưa các cá nhân và nhóm kinh doanh theo nghị định 66/HDBT vào đối tượng điều chỉnh của Luật phá sản thì Toà kinh tế sẽ rất khó đảm đương được khối lượng công việc đồ sộ này.
Như vậy, đặc điểm thứ nhất của Luật phá sản doanh nghiệp Việt nam là chỉ có doanh nghiệp mới có thể bị Toà án tuyên bố phá sản. Điều 1 Luật phá sản doanh nghiệp Việt nam qui định :”.Chính phủ qui định cụ thể việc thi hành phá sản đối với các doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và dịch vụ công cộng quan trọng .