mở đầu của thể loại trường ca. Là giai đoạn thể nghiệm của thể loại, tuy trường ca chưa có được thành tựu gì đáng kể, đội ngũ sáng tác còn thưa thớt, số lượng tác phẩm còn khiêm tốn, ý thức về thể loại chưa sâu sắc, sự phân định giữa trường ca với các thể thơ trường thiên khác 11 download by : skknchat@gmail.com cũng chưa thật rạch ròi nhưng thể loại này đã gây được sự chú ý với sự xuất hiện của những tác giả, tác phẩm như: Xuân Diệu với Ngọn Quốc kì (1945) và Hội nghị non sông (1946); Khương Hữu Dụng với Từ đêm mười chín (1948); Hà Thanh Đẩu với Việt Nam hùng sử ca (1949); Phùng Quán với Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo (1954); Văn Cao với Những người trên cửa biển (1956); Xuân Hoàng với Du kích sông Loan (1962); .Nhìn chung, các tác phẩm kể trên đã phản ánh được một số sự kiện nổi bật và ghi lại được hình tượng người chiến sĩ cách mạng trong thời kì kháng chiến chống Pháp và những năm đầu kháng chiến chống Mĩ. Tuy nhiên, ở các trường ca này giá trị nghệ thuật cũng như tư tưởng chưa có kết tinh lớn, chưa khái quát được những đặc trưng của thể loại trường ca. Đến năm 1964, Bài ca chim chơ - rao của Thu Bồn ra đời là dấu mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển của trường ca Việt Nam.
Bước sang giai đoạn từ 1965 đến 1985, do nhu cầu khái quát và tổng kết lịch sử nên nhiều nhà thơ đã lựa chọn trường ca là thể loại thích hợp để sáng tác. Đây chính là giai đoạn trường ca Việt Nam nở rộ, phát triển mạnh mẽ và trở thành hiện tượng văn học được chú ý trong những năm chống Mĩ và mười năm sau chiến tranh. Dựa vào bối cảnh lịch sử, lấy năm 1975 làm mốc, có thể chia sự phát triển của trường ca ở giai đoạn này làm hai chặng đường là mười năm trong chiến tranh và mười năm sau chiến tranh. Từ năm 1965 đến 1975 là thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân ta đang diễn ra quyết liệt và đây cũng là thời kì trường ca nở rộ.
Hàng loạt cây bút đã khẳng định được tên tuổi của mình, hàng loạt những bông hoa trường ca khoe sắc, tỏa hương. Tiêu biểu như Lê Anh Xuân với trường ca Nguyễn Văn Trỗi (1967); Giang Nam với Người anh hùng Đồng Tháp (1968); Tố Hữu với Theo chân Bác (1970) và Nước non ngàn dặm (1973); Thu Bồn với Vách đá Hồ Chí Minh (1970), Người gồng gánh phương Đông (1972) và Quê hương mặt trời vàng (1975); Hưởng Triều với Hành trình (1971); Liên Nam với Trên cát trắng (1973); Trần Đăng Khoa với Khúc hát người anh hùng 12 download by : skknchat@gmail. Nếu như các sáng tác trường ca ở giai đoạn trước phản ánh hiện thực ở độ hẹp về không gian, thời gian và đối tượng thì đến giai đoạn này có thể nói chính sự sôi động của đời sống kháng chiến đã giúp các tác giả trường ca đi sâu vào phản ánh được nhiều phương diện của cuộc kháng chiến. Bên cạnh đó, các trường ca ở chặng đường này chủ yếu là trường ca có cốt truyện nhưng chất tự sự, trữ tình, triết lí ngày càng được tăng cường và được kết hợp nhuần nhuyễn với nhau góp phần tạo nên chiều sâu tư tưởng cho tác phẩm.
Tuy nhiên, nhìn vào đội ngũ sáng tác trường ca ở chặng đường này thì phần lớn các tác giả đều là những người lính trực tiếp cầm súng chiến đấu, họ lại viết trong hoàn cảnh chiến tranh nên hiện thực phản ánh trong tác phẩm còn bề bộn, mới chỉ ở mức liệt kê phác thảo, chưa thực sự đi vào chiều sâu. Nhìn chung trường ca ở chặng đường này vẫn còn có những hạn chế nhất định về cả nội dung phản ánh và nghệ thuật biểu hiện. Sang chặng đường mười năm sau chiến tranh (1975 - 1985), đất nước được giải phóng và thống nhất, các tác giả trường ca, những người đã lăn lộn trong chiến tranh khốc liệt để đưa cuộc kháng chiến của dân tộc đi đến thắng lợi cuối cùng, hơn ai hết họ nhận thức rõ về sự lớn lao, vĩ đại của một dân tộc, về niềm vui chiến thắng và họ càng nhận thức rõ rằng để có được vinh quang chiến thắng thì dân tộc ta phải đánh đổi bằng biết bao mất mát, đau thương. Với nhu cầu khái quát và tổng kết lịch sử, trường ca viết sau chiến tranh đã bùng nổ và phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng tác phẩm.
Hàng loạt các tác giả trường ca có lực viết dồi dào, hàng loạt các tác phẩm trường ca vừa có dung lượng lớn, vừa chứa đựng giá trị tư tưởng sâu sắc và được đánh giá là có giá trị nghệ thuật cao tiêu biểu như: Những người đi tới biển (1976), Ngọn sóng mặt trời (1982), Khối vuông ru - bích (1985) của Thanh Thảo; Ba zan khát (1976), Cam Pu Chia hi vọng (1978), O ran 76 ngọn (1980) của Thu Bồn; Sông núi trên vai (1977), Sông Mê kông bốn mặt (1981), Điệp khúc vô danh (1983) 13 download by : skknchat@gmail.com của Anh Ngọc; Người anh hùng đất Hoan Châu (1976), Ngày hội rạng đông (1978) của Võ Văn Trực; Đường tới thành phố (1979) của Hữu Thỉnh; Con đường của những vì sao (1978) của Nguyễn Trọng Tạo; Mặt trời trong lòng đất (1979), Đất nước hình tia chớp (1980) của Trần Mạnh Hảo; Trường ca sư đoàn (1980) của Nguyễn Đức Mậu;. Có thể nói, những sáng tác trường ca ở thời kì này tuy vẫn chủ yếu viết về chiến tranh và cách mạng, song các tác giả đã có những góc nhìn nhận rộng hơn, toàn diện hơn trong việc chiếm lĩnh con người và sự kiện. Nếu các trường ca ra đời trong chiến tranh thường lấy kết cấu sự kiện, cốt truyện và giọng điệu ngợi ca làm điểm tựa thì trường ca sau chiến tranh lại lấy mạch ngầm tư tưởng cảm xúc làm kết cấu chính và lấy giọng điệu suy tư, triết lí làm chủ đạo. Vì vậy trường ca sau năm 1975 ngày càng có xu hướng nghiêng về thế sự, các nhà trường ca đã thể hiện được sự nhận thức, suy ngẫm và triết luận của mình về các vấn đề hiện thực.
Từ năm 1986 đến nay, đất nước ta bước vào thời kì đổi mới và quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, hiện thực cuộc sống và không khí thời đại đã có sự thay đổi nhiều so với giai đoạn trước, trường ca có sự chững lại. Số nhà thơ tìm đến trường ca để khẳng định "sức vóc" ngòi bút của mình như giai đoạn trước là không nhiều, các tác phẩm trường ca xuất hiện cũng thưa thớt hơn. Đáng chú ý là nhà thơ Vĩnh Quang Lê với tác phẩm Tốc độ lớn của tình yêu (1986), sau đó trường ca đã lắng xuống trong một khoảng thời gian khá dài. Từ khoảng năm 1994 đến nay, trường ca đang có sự "hồi sinh" trở lại.
Bên cạnh các tác giả đã thành danh từ trước, có sự gia nhập của những nhà trường ca mới, ta có thể điểm qua những tác giả, tác phẩm tiêu biểu như: Hữu Thỉnh với Trường ca biển (1994); Thi Hoàng với Gọi nhau qua vách núi (1994); Nguyễn Quang Thiều với Nhịp độ châu thổ mới (1997); Mai Văn Phấn với Người cùng thời (1999); Hoàng Trần Cương với Trầm tích (1999); Giang Nam với Sông Dinh mùa trăng khuyết (2000); Lê Thị Mây với Lửa mùa hong áo (2003); Nguyễn Hưng Hải với Mảnh hồn chim Lạc (2003); Trần Anh Thái với Đổ bóng xuống mặt 14 download by : skknchat@gmail.; Nguyễn Anh Nông với Trường ca Trường Sơn (2009), Gửi Bill Gates và Trời xanh (2011), Trò chuyện với cha con Cu Lập Sơn (2012) và Lập Thành (2012);. Nội dung cảm hứng của trường ca giai đoạn này, đặc biệt là các tác phẩm được viết trong những năm gần đây đã được mở rộng, cảm hứng sử thi đã dần nhường chỗ cho cảm hứng thế sự đời thường trong thời hiện đại. Một số trường ca tuy vẫn khai thác về đề tài chiến tranh nhưng các tác giả đã có cái nhìn đa chiều về chiến tranh. Về nghệ thuật, các tác giả đã có ý thức phá vỡ cấu trúc, không theo mô hình cấu trúc cố định mà nhận thức và chiếm lĩnh hiện thực theo cách riêng của mình, mở rộng trường liên tưởng, chú trọng xây dựng các biểu tượng,.
Như vậy, qua việc tìm hiểu ở trên, ta thấy trường ca Việt Nam hiện đại đã trải qua các giai đoạn phát triển và biến đổi không ngừng để phù hợp với xu thế vận động chung của nền văn học và đáp ứng yêu cầu tổng hợp và khái quát hiện thực đời sống. Nhờ sự tìm tòi và thể nghiệm của nhiều thế hệ nhà thơ qua các thời kì, trường ca đã dần dần được hoàn thiện và đang khẳng định được vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển của nền văn học dân tộc. Một số đặc điểm cơ bản của trường ca hiện đại Việt Nam 1. Khả năng khái quát, tổng hợp Có thể nói rằng, trường ca là bước phát triển mới của thơ trữ tình về khả năng tổng hợp, khái quát cuộc sống, bởi nhu cầu mở rộng về dung lượng phản ánh hiện thực.
Tính chất khái quát, tổng hợp cho phép trường ca có một khả năng phản ánh, tái hiện, chuyển tải những nội dung lớn.Y vanixenkô xác định rằng, “nội dung lớn” chính là đặc trưng cốt yếu của thể loại trường ca (Hình thức lớn thì nội dung lớn, “Tình hữu nghị các dân tộc”, 1961, số 8). Nội dung lớn nói đến trên đây của trường ca biểu hiện ở hai khía cạnh: nhân tố khách quan của đời sống - quy mô của thực tế được tổng hợp trong tác phẩm, tức là quy mô bên ngoài, tạo nên tính hoành tráng của tác 15 download by : skknchat@gmail.com phẩm; nhân tố chủ quan của nhà thơ - nhân cách của nhà thơ với những tư tưởng tình cảm phóng khoáng, lành mạnh hết sức phong phú, những tư tưởng có sức khái quát sâu sắc, những tình cảm bay bổng của nhà thơ. Vấn đề quy mô hiện thực được tổng hợp trong tác phẩm chính là vấn đề lựa chọn đề tài của nhà thơ - yếu tố đầu tiên giúp nhận biết quy mô của một trường ca. Thông thường, đối tượng phản ánh của trường ca sẽ liên quan đến các vấn đề lớn như đất nước, quê hương, nhân dân, người mẹ, người lính.
Tư tưởng là một yếu tố cốt lõi tạo nên tầm vóc, quy mô lớn của trường ca. Chính tầm vóc của tư tưởng chứa đựng quy mô của trường ca. Tư tưởng là kết quả của những quan sát, những chiêm nghiệm, những suy tưởng của tác giả trước những vấn đề hiện thực đời sống.