Nghiên cứu Trường ca Trần Anh Thái - Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Hải Yến, ĐH Sư phạm Thái Nguyên

Tìm hiểu luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Hải Yến về trường ca Trần Anh Thái. Khám phá đặc điểm nội dung, nghệ thuật trong sáng tác nhà thơ.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

91
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.3. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu

0.4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu

0.5. Phạm vi nghiên cứu

0.6. Cấu trúc của luận văn

0.7. Đóng góp của luận văn

1. Chương 1: TRƯỜNG CA VIỆT NAM HIỆN ĐẠI VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA TRẦN ANH THÁI

1.1. Trường ca Việt Nam hiện đại

1.1.1. Khái niệm trường ca

1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của thể loại trường ca trong văn học Việt Nam hiện đại

1.1.3. Một số đặc điểm cơ bản của trường ca hiện đại Việt Nam

1.2. Nhà thơ Trần Anh Thái với thể loại trường ca

1.2.1. Tiểu sử nhà thơ Trần Anh Thái

1.2.2. Sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Trần Anh Thái

1.2.3. Trần Anh Thái với thể loại trường ca

2. Chương 2: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ NỘI DUNG CỦA TRƯỜNG CA TRẦN ANH THÁI

2.1. Cảm hứng chủ đạo

2.1.1. Khái niệm “Cảm hứng chủ đạo”

2.1.2. Cảm hứng chủ đạo trong trường ca Trần Anh Thái

2.2. Hệ thống hình tượng nghệ thuật

2.2.1. Khái niệm “Hình tượng nghệ thuật”

2.2.2. Hệ thống hình tượng nghệ thuật trong trường ca Trần Anh Thái

3. Chương 3: MỘT SỐ ĐẶC SẮC VỀ NGHỆ THUẬT CỦA TRƯỜNG CA TRẦN ANH THÁI

3.1. Kết cấu và thể thơ

3.1.1. Sự phong phú, đa dạng về thể thơ

3.2. Ngôn ngữ và giọng điệu

3.2.1. Ngôn ngữ độc đáo, mang đậm dấu ấn sáng tạo của tác giả

3.2.2. Giọng điệu phức hợp, đa dạng về sắc thái

3.3. Một số biểu tượng nghệ thuật trong trường ca Trần Anh Thái

3.3.1. Biểu tượng lửa

3.3.2. Biểu tượng biển

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Luận văn thạc sĩ Tổng quan về Trường ca Trần Anh Thái

Trường ca, một thể loại thơ dài, đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ trong văn học Việt Nam hiện đại. Trần Anh Thái, một trong những nhà thơ tiêu biểu, đã có những đóng góp quan trọng cho thể loại này. Luận văn thạc sĩ này tập trung phân tích Trường ca của Trần Anh Thái, khám phá những đặc điểm độc đáo về nội dung và nghệ thuật. Trường ca là một thể loại đặc biệt trong văn chương, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Tuy đã có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài, trường ca vẫn được xem là thể loại chưa ổn định, khó đưa ra một khái niệm chính xác và đầy đủ. Các nhà lý luận, phê bình văn học đã cố gắng đưa ra cách hiểu của mình về khái niệm và tên gọi trường ca, nhưng ở các điểm nhìn và góc độ khác nhau, các ý kiến đưa ra cũng có sự khác nhau. Nguyễn Đăng Điệp nhận định, “Các trường ca thường dung nạp trong nó yếu tố tự sự rõ nét, thông qua các sự kiện, biến cố xảy ra trong đời sống để trình bày những suy ngẫm của nhà thơ về dân tộc, con người”. Vũ Văn Sỹ cho rằng: “Trường ca là hình thức biểu hiện lớn cái tôi trữ tình trước các hiện tượng tinh thần của đời sống có ý nghĩa với cộng đồng”. Hoàng Ngọc Hiến trong bài “Về đặc trưng của trường ca” nhấn mạnh “trường ca không nhất thiết lấy sự chuyển động của các sự kiện lớn làm mạch văn, mà thường lấy cảm xúc trực tiếp của tác giả đối với sự kiện và nhân vật là động lực thúc đẩy mạch văn phát triển”. Như vậy, từ việc liệt kê các ý kiến trên, chúng tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu, lí luận văn học tuy mỗi người đều đưa ra cách hiểu riêng của mình về khái niệm trường ca song các ý kiến đều có điểm chung thống nhất đó là: Trường ca là những tác phẩm vừa có 'tầm cỡ', 'tầm vóc', lớn lao cả về hình thức lẫn nội dung vừa có tính tự sự, tính trữ tình và yếu tố chính luận. Trần Anh Thái là một gương mặt tiêu biểu của trường ca Việt Nam hiện đại, người có bốn bộ trường ca đã làm mới diện mạo của trường ca Việt Nam trong những năm gần đây. Nhà văn Văn Giá đánh giá Trần Anh Thái là “một trong ba tác giả có những đóng góp quan trọng cho thể loại trường ca khoảng 20 năm gần đây”. Các tác phẩm trường ca của Trần Anh Thái đã góp phần làm mới và tạo sự khởi sắc cho thể loại này, đồng thời thúc đẩy tình hình nghiên cứu trường ca được chú ý hơn. Mặc dù có sự quan tâm, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về Trường ca Trần Anh Thái.

1.1. Quá trình hình thành và phát triển Trường ca Việt Nam

Thể loại trường ca ra đời và phát triển đã đáp ứng yêu cầu của lịch sử, xã hội là phản ánh và tổng kết cuộc đấu tranh của nhân dân ta trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Từ chỗ xuất hiện lẻ tẻ trong thời kì kháng chiến chống Pháp, trường ca phát triển mạnh mẽ trong những năm chống Mĩ và mười năm sau chiến tranh. Khi đất nước bước vào thời kì đổi mới, trường ca có sự chững lại. Từ năm 1990 đến nay, trường ca đã xuất hiện trở lại và ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong dòng chảy văn học dân tộc. Trong Văn học Việt Nam hiện đại, nhiều nhà nghiên cứu đã lấy mốc từ năm 1945 đến năm 1965 làm giai đoạn mở đầu của thể loại trường ca. Là giai đoạn thể nghiệm của thể loại, tuy trường ca chưa có được thành tựu gì đáng kể, đội ngũ sáng tác còn thưa thớt, số lượng tác phẩm còn khiêm tốn, ý thức về thể loại chưa sâu sắc, sự phân định giữa trường ca với các thể thơ trường thiên khác cũng chưa thật rạch ròi nhưng thể loại này đã gây được sự chú ý. Đến năm 1964, Bài ca chim chơ - rao của Thu Bồn ra đời là dấu mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển của trường ca Việt Nam. Bước sang giai đoạn từ 1965 đến 1985, do nhu cầu khái quát và tổng kết lịch sử nên nhiều nhà thơ đã lựa chọn trường ca là thể loại thích hợp để sáng tác. Từ năm 1986 đến nay, đất nước ta bước vào thời kì đổi mới và quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, hiện thực cuộc sống và không khí thời đại đã có sự thay đổi nhiều so với giai đoạn trước, trường ca có sự chững lại.

1.2. Vị trí của Trần Anh Thái trong Trường ca Việt Nam hiện đại

Là nhà thơ thuộc “thế hệ đổi mới”, với những hối thúc và trăn trở trong sáng tạo nghệ thuật, ông là một cây viết luôn băn khoăn, lựa chọn để kiếm tìm, khai mở và tự khẳng định mình. Không bằng lòng với chính mình, hành trình sáng tạo của nhà thơ tiếp tục với sự thử nghiệm thể loại trường ca. Sự xuất hiện và thành công của Trần Anh Thái với bốn trường ca đã cho thấy ông là một tác giả trường ca thực sự và là hiện tượng nổi bật trong đời sống thơ ca đương đại. Trần Anh Thái đã góp phần vào việc đánh dấu một bước phát triển mới của trường ca Việt Nam hiện đại. Đặt trong tiến trình chung của thể loại, nhất là trong bối cảnh từ sau năm 1986 đến nay, có thể nói sự xuất hiện của trường ca Trần Anh Thái trong mấy năm gần đây mang đến cho thể loại này những sắc màu dáng vẻ cũng như một sức sống mới. Với bốn trường ca đã ra đời, Trần Anh Thái thực sự đã làm nên một cuộc cách tân lớn về thể loại. Tác giả đã thức dậy cái sức sống tiềm tàng vốn có của thể loại này mà bấy lâu nó vẫn âm ỉ trong mạch ngầm nhưng chưa tìm được nguồn mạch để khai sáng.

1.3. Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu luận văn về Trường ca

Luận văn đi vào tìm hiểu về tác giả Trần Anh Thái; thể loại trường ca, một số đặc điểm của trường ca sau chiến tranh. Đồng thời, chúng tôi đi sâu vào phân tích, đánh giá những nét nổi bật và độc đáo về nội dung và nghệ thuật trong trường ca Trần Anh Thái.Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hướng tới mục tiêu tìm hiểu những nét nổi bật về phương diện nội dung và nghệ thuật trong trường ca Trần Anh Thái. Qua đó thấy được những đóng góp của nhà thơ đối với sự phát triển của thể loại trường ca nói riêng, của thơ ca Việt Nam hiện đại nói chung. Ở luận văn này, chúng tôi sử dụng những phương pháp: Phương pháp nghiên cứu loại hình: Nghiên cứu loại hình tác phẩm trường ca của Trần Anh Thái để thấy được diễn tiến của thể loại trường ca trong dòng chảy văn học dân tộc. Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại: Để thấy được những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong những tác phẩm trường ca cụ thể của Trần Anh Thái. Phương pháp khái quát tổng hợp: giúp nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện. Phương pháp so sánh, đối chiếu.

II. Phân tích Cảm hứng chủ đạo trong Trường ca Trần Anh Thái

Cảm hứng chủ đạo là trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định. Trường ca Trần Anh Thái thể hiện sâu sắc tâm thức hướng cội nguồn văn hóa - lịch sử, cảm hứng về chiến tranh và các vấn đề hậu chiến, và cảm hứng về thân phận con người. Cội nguồn văn hóa - lịch sử của dân tộc, đất nước luôn là một mạch nguồn cảm hứng lớn của văn học nói chung, đặc biệt là đối với trường ca nói riêng. Là một trong những tác giả đóng góp quan trọng làm nên diện mạo trường ca Việt Nam, Trần Anh Thái cũng đã khơi nguồn rất thành công mạch cảm hứng này. Bên cạnh đó, chiến tranh là một hiện thực lớn bao trùm lịch sử Việt Nam, tạo thành mảng đề tài lớn trong trường ca của nhà thơ người lính này. Kí ức về chiến trận trong Trần Anh Thái trước hết là sự tàn khốc của khói lửa đạn bom với sự tàn phá, chết chóc kinh hoàng. Cuối cùng, hành trình khám phá về con người của văn chương là một hành trình bất tận. Mỗi tác phẩm văn học như là sự hóa thân của những trang viết vào từng số phận, để cùng sẻ chia, đồng cảm và trân trọng. Trường ca Trần Anh Thái cũng không ngoại lệ khi xoáy sâu và bám chặt vào trọng tâm này.

2.1. Cảm hứng về cội nguồn văn hóa lịch sử trong Trường ca

Trước hết, trường ca Trần Anh Thái thể hiện sâu sắc tâm thức hướng cội của một người con dân nước Việt. Tác giả thường trực những trăn trở tìm về hành trình lịch sử cha ông. Đó là những dấu tích xa xưa ẩn trong bao lớp phủ thời gian. Lắng mình lại để suy tư, hoài vọng về lịch sử - văn hóa ông cha bao đời truyền nối, nhà thơ hiểu ra những đắng cay vất vả khôn cùng mà người đi trước đã phải vượt qua để cho người hôm nay bước tiếp. Dù lịch sử có thăng trầm chìm nổi, dù cha ông và dân tộc đã trải qua bao phen bão tố, dù cuộc sống trên đất nước này đã từng vô cùng vất vả gian lao, thì với cái nhìn yêu thương và hi vọng, nhà thơ vẫn cảm nhận được những con đường hạnh phúc hứa hẹn rộng mở phía tương lai. Cội nguồn văn hóa - lịch sử của dân tộc đã trở thành một đề tài được quan tâm đặc biệt trong trường ca Trần Anh Thái.

2.2. Cảm hứng về chiến tranh và các vấn đề hậu chiến

Trần Anh Thái là lớp người trực tiếp trải qua đời sống thời bom đạn, cho nên chiến tranh như một ám ảnh sâu đậm và rõ nét. Kí ức về chiến trận trong Trần Anh Thái trước hết là sự tàn khốc của khói lửa đạn bom với sự tàn phá, chết chóc kinh hoàng. Chiến tranh với tất cả những đau thương, mất mát của nó đã ám ảnh rất sâu trong tâm thức nhà thơ. Nó là tiếng nói của người trong cuộc - tiếng nói từ sâu thẳm niềm tâm tư của một người thấu hiểu nỗi đau, chấp nhận nỗi đau, nhưng không thể nguôi ngoai, không thôi khắc khoải. Bên cạnh đó, bom đạn, cái chết, thắng bại có thể là những thứ mà chúng ta đã thấy đã biết, nhưng đằng sau nó là những vấn đề nhức nhối còn ẩn khuất trong bao số phận, bao nỗi đau còn lại tận bây giờ, thậm chí không bao giờ có thể nguôi ngoai. Những vấn đề hậu chiến thực sự đã trở thành một vùng mẫn cảm nhức nhối trong thơ Trần Anh Thái, từ đó truyền đến người đọc bao rung động và đánh thức trong ta tiếng nói trách nhiệm, lương tri.

2.3. Cảm hứng về thân phận con người trong Trường ca

Trần Anh Thái thường suy tư và không ngừng trăn trở, chất vấn về ý nghĩa, giá trị kiếp sống con người. Trường ca Trần Anh Thái còn dành những thổn thức khôn nguôi cho những thân phận lao động lầm than, qua bao đời bao kiếp không thoát khỏi được cảnh tù túng nghèo khổ của những người làm nông chân lấm tay bùn. Có những trạng huống đau lòng về sự thiếu đói được nhà thơ tái hiện. Nhà thơ cay đắng nhận ra những nỗi niềm run rẩy trong lòng người. Không chỉ là cái đói cái khát, con người nhiều khi còn phải đối mặt với hiểm nguy tính mạng. Vượt qua tất cả, nhà thơ phát hiện, dù có gặp những thách thức ghê gớm của đời sống vốn đầy khó khăn cũng như bất trắc, nhưng con người dường như luôn mang một bản năng, một nội lực mạnh mẽ về sức sống.

III. Hệ thống Hình tượng nghệ thuật trong Trường ca Trần Anh Thái

Hình tượng nghệ thuật là sản phẩm của phương thức chiếm lĩnh, thể hiện và tái tạo hiện thực theo quy luật của tưởng tượng, hư cấu nghệ thuật. Trường ca Trần Anh Thái sử dụng các hình tượng nghệ thuật như hình tượng người mẹ, hình tượng người lính, và hình tượng đất để nhận thức và cắt nghĩa đời sống, thể hiện tư tưởng và tình cảm của mình. Hình tượng người mẹ là một biểu tượng thiêng liêng trong văn học nói chung và trong trường ca nói riêng. Hình ảnh người lính là biểu tượng cho vẻ đẹp cao cả, là biểu tượng về một dân tộc bền gan vững chí trước thử thách sống còn. Cuối cùng, hình tượng đất là một hình tượng quan trọng trong hệ thống các hình tượng văn hóa.

3.1. Hình tượng người mẹ trong Trường ca Trần Anh Thái

Trường ca Trần Anh Thái luôn trở đi trở lại một hình tượng trang trọng mà gần gũi, kì vĩ mà bình dị - đó là hình tượng người mẹ. Trước hết, người mẹ là cả một miền kí ức thiêng liêng tha thiết mà dù đi đâu, làm gì, lúc nào, ra sao thì mỗi người con đều gìn giữ trong tâm trí. Mẹ ra đi trong đêm. Mẹ như chiếc phao không bến. Mẹ là biểu trưng của mẫu tính, cội nguồn, khởi sinh, sự sống. Mẹ dâng tặng cho cuộc đời đức hi sinh, lòng bao dung, tình yêu thương chan hòa và sự bao bọc chở che. Tất cả những nỗi đau cần chia sẻ, những lớn lao cao đẹp cần trân trọng, nhà thơ Trần Anh Thái đã gửi gắm và hình tượng hóa trong câu chữ.

3.2. Hình tượng người lính trong Trường ca Trần Anh Thái

Là thế hệ trực tiếp cầm súng chiến đấu bảo vệ đất nước, Trần Anh Thái dành sự quan tâm lớn và sự thấu hiểu sâu sắc đối với hình ảnh những người lính. Những người lính trẻ khi bước vào chiến trận đều mang theo trong mình tất cả nhiệt huyết thanh xuân. Ngày ra đi, dù hiểu rằng phía trước là bom đạn chiến trường. Ngày mai rồi chiến tranh kết thúc. Chỉ có vậy mới làm nên những người lính không lo sợ toan tính, không chần chừ do dự. Đọc trường ca Trần Anh Thái, chúng ta hiểu thêm rất nhiều về người lính trong chiến trận. Họ đâu chỉ là con người của ý chí, bản lĩnh.

3.3. Hình tượng đất trong Trường ca Trần Anh Thái

Trong tâm thức tác giả, đất là biểu trưng gắn với những gì thuộc về cội nguồn, khởi mạch. Nó gợi kí ức về thuở khai thiên lập địa, về lịch sử thăng trầm từ những năm tháng cha ông ta khai sơn phá thạch. Với Trần Anh Thái, đất còn như là biểu trưng của vòng tay mẹ.Khi thì đất được nhìn như sự hư vô. Vượt qua những ám ảnh về cái chết, nhiều khi đất lại tượng trưng cho sức sống, sự hồi sinh. Có khi đơn giản lặng thầm, đất cho ta những bông hoa nở ra bao sức sống và vẻ đẹp tự nhiên mà mãnh liệt.

IV. Đặc sắc Nghệ thuật Kết cấu và Thể thơ Trường ca Trần Anh Thái

Kết cấu và thể thơ là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên đặc sắc nghệ thuật của Trường ca Trần Anh Thái. Trường ca của ông không tuân theo một kết cấu cố định mà có sự đa dạng và linh hoạt. Về thể thơ, ông sử dụng nhiều thể thơ khác nhau như thơ tự do, thơ 5 chữ, thơ 7 chữ, và thơ lục bát.

4.1. Sự phong phú và đa dạng về thể thơ trong Trường ca

Một trong những đặc điểm nổi bật của Trường ca Trần Anh Thái là sự phong phú và đa dạng về thể thơ. Ông không chỉ sử dụng một thể thơ duy nhất mà kết hợp nhiều thể thơ khác nhau trong cùng một tác phẩm. Điều này tạo nên sự đa dạng và linh hoạt cho tác phẩm, đồng thời giúp thể hiện được nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau.

4.2. Kết cấu linh hoạt không tuân theo khuôn mẫu cố định

Trường ca Trần Anh Thái không tuân theo một kết cấu cố định mà có sự linh hoạt và biến đổi. Tác giả có thể tự do sắp xếp các phần của tác phẩm theo ý đồ nghệ thuật của mình. Điều này giúp tạo nên sự mới mẻ và độc đáo cho tác phẩm.

V. Phân tích Ngôn ngữ và Giọng điệu trong Trường ca Trần Anh Thái

Ngôn ngữ và giọng điệu là một yếu tố quan trọng thể hiện phong cách nghệ thuật độc đáo của Trần Anh Thái. Ngôn ngữ thơ của ông mang đậm dấu ấn sáng tạo cá nhân, vừa giản dị, gần gũi, vừa giàu sức biểu cảm. Giọng điệu thơ phức hợp, đa dạng về sắc thái, thể hiện nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau.

5.1. Ngôn ngữ độc đáo mang đậm dấu ấn sáng tạo cá nhân

Ngôn ngữ trong Trường ca Trần Anh Thái mang đậm dấu ấn sáng tạo cá nhân. Ông sử dụng nhiều từ ngữ mới mẻ, độc đáo, tạo nên sự khác biệt so với các nhà thơ khác. Đồng thời, ngôn ngữ thơ của ông vẫn giữ được sự giản dị, gần gũi với đời sống, giúp người đọc dễ dàng tiếp cận và cảm nhận.

5.2. Giọng điệu phức hợp đa dạng về sắc thái

Giọng điệu trong Trường ca Trần Anh Thái phức hợp và đa dạng về sắc thái. Có khi giọng điệu trầm lắng, suy tư, thể hiện những trăn trở về cuộc đời, về con người. Có khi giọng điệu mạnh mẽ, quyết liệt, thể hiện tinh thần phản kháng trước những bất công, ngang trái của xã hội.

VI. Biểu tượng nghệ thuật đặc sắc trong Trường ca Trần Anh Thái

Trần Anh Thái sử dụng thành công nhiều biểu tượng nghệ thuật đặc sắc trong trường ca của mình, như biểu tượng lửa, biểu tượng biển, và nhiều biểu tượng khác. Các biểu tượng này góp phần làm tăng tính biểu cảm và ý nghĩa của tác phẩm.

6.1. Biểu tượng lửa trong Trường ca Trần Anh Thái

Biểu tượng lửa thường được sử dụng để thể hiện sự nhiệt huyết, sức mạnh, và tinh thần chiến đấu. Lửa cũng có thể tượng trưng cho sự hủy diệt, tàn phá, và đau khổ. Sự xuất hiện của biểu tượng này trong Trường ca Trần Anh Thái thường mang nhiều tầng ý nghĩa sâu sắc.

6.2. Biểu tượng biển trong Trường ca Trần Anh Thái

Biển là một biểu tượng quen thuộc trong thơ ca Việt Nam. Trong Trường ca Trần Anh Thái, biển có thể tượng trưng cho quê hương, đất nước, cho sự rộng lớn, bao la của cuộc đời, hoặc cho những thử thách, khó khăn mà con người phải đối mặt.

02/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu của thể loại trường ca. Là giai đoạn thể nghiệm của thể loại, tuy trường ca chưa có được thành tựu gì đáng kể, đội ngũ sáng tác còn thưa thớt, số lượng tác phẩm còn khiêm tốn, ý thức về thể loại chưa sâu sắc, sự phân định giữa trường ca với các thể thơ trường thiên khác 11 download by : skknchat@gmail.com cũng chưa thật rạch ròi nhưng thể loại này đã gây được sự chú ý với sự xuất hiện của những tác giả, tác phẩm như: Xuân Diệu với Ngọn Quốc kì (1945) và Hội nghị non sông (1946); Khương Hữu Dụng với Từ đêm mười chín (1948); Hà Thanh Đẩu với Việt Nam hùng sử ca (1949); Phùng Quán với Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo (1954); Văn Cao với Những người trên cửa biển (1956); Xuân Hoàng với Du kích sông Loan (1962); .Nhìn chung, các tác phẩm kể trên đã phản ánh được một số sự kiện nổi bật và ghi lại được hình tượng người chiến sĩ cách mạng trong thời kì kháng chiến chống Pháp và những năm đầu kháng chiến chống Mĩ. Tuy nhiên, ở các trường ca này giá trị nghệ thuật cũng như tư tưởng chưa có kết tinh lớn, chưa khái quát được những đặc trưng của thể loại trường ca. Đến năm 1964, Bài ca chim chơ - rao của Thu Bồn ra đời là dấu mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển của trường ca Việt Nam.

Bước sang giai đoạn từ 1965 đến 1985, do nhu cầu khái quát và tổng kết lịch sử nên nhiều nhà thơ đã lựa chọn trường ca là thể loại thích hợp để sáng tác. Đây chính là giai đoạn trường ca Việt Nam nở rộ, phát triển mạnh mẽ và trở thành hiện tượng văn học được chú ý trong những năm chống Mĩ và mười năm sau chiến tranh. Dựa vào bối cảnh lịch sử, lấy năm 1975 làm mốc, có thể chia sự phát triển của trường ca ở giai đoạn này làm hai chặng đường là mười năm trong chiến tranh và mười năm sau chiến tranh. Từ năm 1965 đến 1975 là thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân ta đang diễn ra quyết liệt và đây cũng là thời kì trường ca nở rộ.

Hàng loạt cây bút đã khẳng định được tên tuổi của mình, hàng loạt những bông hoa trường ca khoe sắc, tỏa hương. Tiêu biểu như Lê Anh Xuân với trường ca Nguyễn Văn Trỗi (1967); Giang Nam với Người anh hùng Đồng Tháp (1968); Tố Hữu với Theo chân Bác (1970) và Nước non ngàn dặm (1973); Thu Bồn với Vách đá Hồ Chí Minh (1970), Người gồng gánh phương Đông (1972) và Quê hương mặt trời vàng (1975); Hưởng Triều với Hành trình (1971); Liên Nam với Trên cát trắng (1973); Trần Đăng Khoa với Khúc hát người anh hùng 12 download by : skknchat@gmail. Nếu như các sáng tác trường ca ở giai đoạn trước phản ánh hiện thực ở độ hẹp về không gian, thời gian và đối tượng thì đến giai đoạn này có thể nói chính sự sôi động của đời sống kháng chiến đã giúp các tác giả trường ca đi sâu vào phản ánh được nhiều phương diện của cuộc kháng chiến. Bên cạnh đó, các trường ca ở chặng đường này chủ yếu là trường ca có cốt truyện nhưng chất tự sự, trữ tình, triết lí ngày càng được tăng cường và được kết hợp nhuần nhuyễn với nhau góp phần tạo nên chiều sâu tư tưởng cho tác phẩm.

Tuy nhiên, nhìn vào đội ngũ sáng tác trường ca ở chặng đường này thì phần lớn các tác giả đều là những người lính trực tiếp cầm súng chiến đấu, họ lại viết trong hoàn cảnh chiến tranh nên hiện thực phản ánh trong tác phẩm còn bề bộn, mới chỉ ở mức liệt kê phác thảo, chưa thực sự đi vào chiều sâu. Nhìn chung trường ca ở chặng đường này vẫn còn có những hạn chế nhất định về cả nội dung phản ánh và nghệ thuật biểu hiện. Sang chặng đường mười năm sau chiến tranh (1975 - 1985), đất nước được giải phóng và thống nhất, các tác giả trường ca, những người đã lăn lộn trong chiến tranh khốc liệt để đưa cuộc kháng chiến của dân tộc đi đến thắng lợi cuối cùng, hơn ai hết họ nhận thức rõ về sự lớn lao, vĩ đại của một dân tộc, về niềm vui chiến thắng và họ càng nhận thức rõ rằng để có được vinh quang chiến thắng thì dân tộc ta phải đánh đổi bằng biết bao mất mát, đau thương. Với nhu cầu khái quát và tổng kết lịch sử, trường ca viết sau chiến tranh đã bùng nổ và phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng tác phẩm.

Hàng loạt các tác giả trường ca có lực viết dồi dào, hàng loạt các tác phẩm trường ca vừa có dung lượng lớn, vừa chứa đựng giá trị tư tưởng sâu sắc và được đánh giá là có giá trị nghệ thuật cao tiêu biểu như: Những người đi tới biển (1976), Ngọn sóng mặt trời (1982), Khối vuông ru - bích (1985) của Thanh Thảo; Ba zan khát (1976), Cam Pu Chia hi vọng (1978), O ran 76 ngọn (1980) của Thu Bồn; Sông núi trên vai (1977), Sông Mê kông bốn mặt (1981), Điệp khúc vô danh (1983) 13 download by : skknchat@gmail.com của Anh Ngọc; Người anh hùng đất Hoan Châu (1976), Ngày hội rạng đông (1978) của Võ Văn Trực; Đường tới thành phố (1979) của Hữu Thỉnh; Con đường của những vì sao (1978) của Nguyễn Trọng Tạo; Mặt trời trong lòng đất (1979), Đất nước hình tia chớp (1980) của Trần Mạnh Hảo; Trường ca sư đoàn (1980) của Nguyễn Đức Mậu;. Có thể nói, những sáng tác trường ca ở thời kì này tuy vẫn chủ yếu viết về chiến tranh và cách mạng, song các tác giả đã có những góc nhìn nhận rộng hơn, toàn diện hơn trong việc chiếm lĩnh con người và sự kiện. Nếu các trường ca ra đời trong chiến tranh thường lấy kết cấu sự kiện, cốt truyện và giọng điệu ngợi ca làm điểm tựa thì trường ca sau chiến tranh lại lấy mạch ngầm tư tưởng cảm xúc làm kết cấu chính và lấy giọng điệu suy tư, triết lí làm chủ đạo. Vì vậy trường ca sau năm 1975 ngày càng có xu hướng nghiêng về thế sự, các nhà trường ca đã thể hiện được sự nhận thức, suy ngẫm và triết luận của mình về các vấn đề hiện thực.

Từ năm 1986 đến nay, đất nước ta bước vào thời kì đổi mới và quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, hiện thực cuộc sống và không khí thời đại đã có sự thay đổi nhiều so với giai đoạn trước, trường ca có sự chững lại. Số nhà thơ tìm đến trường ca để khẳng định "sức vóc" ngòi bút của mình như giai đoạn trước là không nhiều, các tác phẩm trường ca xuất hiện cũng thưa thớt hơn. Đáng chú ý là nhà thơ Vĩnh Quang Lê với tác phẩm Tốc độ lớn của tình yêu (1986), sau đó trường ca đã lắng xuống trong một khoảng thời gian khá dài. Từ khoảng năm 1994 đến nay, trường ca đang có sự "hồi sinh" trở lại.

Bên cạnh các tác giả đã thành danh từ trước, có sự gia nhập của những nhà trường ca mới, ta có thể điểm qua những tác giả, tác phẩm tiêu biểu như: Hữu Thỉnh với Trường ca biển (1994); Thi Hoàng với Gọi nhau qua vách núi (1994); Nguyễn Quang Thiều với Nhịp độ châu thổ mới (1997); Mai Văn Phấn với Người cùng thời (1999); Hoàng Trần Cương với Trầm tích (1999); Giang Nam với Sông Dinh mùa trăng khuyết (2000); Lê Thị Mây với Lửa mùa hong áo (2003); Nguyễn Hưng Hải với Mảnh hồn chim Lạc (2003); Trần Anh Thái với Đổ bóng xuống mặt 14 download by : skknchat@gmail.; Nguyễn Anh Nông với Trường ca Trường Sơn (2009), Gửi Bill Gates và Trời xanh (2011), Trò chuyện với cha con Cu Lập Sơn (2012) và Lập Thành (2012);. Nội dung cảm hứng của trường ca giai đoạn này, đặc biệt là các tác phẩm được viết trong những năm gần đây đã được mở rộng, cảm hứng sử thi đã dần nhường chỗ cho cảm hứng thế sự đời thường trong thời hiện đại. Một số trường ca tuy vẫn khai thác về đề tài chiến tranh nhưng các tác giả đã có cái nhìn đa chiều về chiến tranh. Về nghệ thuật, các tác giả đã có ý thức phá vỡ cấu trúc, không theo mô hình cấu trúc cố định mà nhận thức và chiếm lĩnh hiện thực theo cách riêng của mình, mở rộng trường liên tưởng, chú trọng xây dựng các biểu tượng,.

Như vậy, qua việc tìm hiểu ở trên, ta thấy trường ca Việt Nam hiện đại đã trải qua các giai đoạn phát triển và biến đổi không ngừng để phù hợp với xu thế vận động chung của nền văn học và đáp ứng yêu cầu tổng hợp và khái quát hiện thực đời sống. Nhờ sự tìm tòi và thể nghiệm của nhiều thế hệ nhà thơ qua các thời kì, trường ca đã dần dần được hoàn thiện và đang khẳng định được vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển của nền văn học dân tộc. Một số đặc điểm cơ bản của trường ca hiện đại Việt Nam 1. Khả năng khái quát, tổng hợp Có thể nói rằng, trường ca là bước phát triển mới của thơ trữ tình về khả năng tổng hợp, khái quát cuộc sống, bởi nhu cầu mở rộng về dung lượng phản ánh hiện thực.

Tính chất khái quát, tổng hợp cho phép trường ca có một khả năng phản ánh, tái hiện, chuyển tải những nội dung lớn.Y vanixenkô xác định rằng, “nội dung lớn” chính là đặc trưng cốt yếu của thể loại trường ca (Hình thức lớn thì nội dung lớn, “Tình hữu nghị các dân tộc”, 1961, số 8). Nội dung lớn nói đến trên đây của trường ca biểu hiện ở hai khía cạnh: nhân tố khách quan của đời sống - quy mô của thực tế được tổng hợp trong tác phẩm, tức là quy mô bên ngoài, tạo nên tính hoành tráng của tác 15 download by : skknchat@gmail.com phẩm; nhân tố chủ quan của nhà thơ - nhân cách của nhà thơ với những tư tưởng tình cảm phóng khoáng, lành mạnh hết sức phong phú, những tư tưởng có sức khái quát sâu sắc, những tình cảm bay bổng của nhà thơ. Vấn đề quy mô hiện thực được tổng hợp trong tác phẩm chính là vấn đề lựa chọn đề tài của nhà thơ - yếu tố đầu tiên giúp nhận biết quy mô của một trường ca. Thông thường, đối tượng phản ánh của trường ca sẽ liên quan đến các vấn đề lớn như đất nước, quê hương, nhân dân, người mẹ, người lính.

Tư tưởng là một yếu tố cốt lõi tạo nên tầm vóc, quy mô lớn của trường ca. Chính tầm vóc của tư tưởng chứa đựng quy mô của trường ca. Tư tưởng là kết quả của những quan sát, những chiêm nghiệm, những suy tưởng của tác giả trước những vấn đề hiện thực đời sống.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ