Thơ Lò Ngân Sủn: Luận văn Thạc sĩ của Phạm Thị Cẩm Anh, ĐH Sư phạm Thái Nguyên

Khám phá luận văn thạc sĩ phân tích thơ Lò Ngân Sủn của Phạm Thị Cẩm Anh, Đại học Sư phạm Thái Nguyên 2017. Nghiên cứu sâu sắc về ngôn ngữ, văn hóa Giáy và các cảm hứng chủ đạo ...

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2017

95
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử vấn đề

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Đóng góp của luận văn

0.7. Cấu trúc của luận văn

1. Chương 1: THƠ LÒ NGÂN SỦN TRONG NGUỒN MẠCH THƠ CA DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM

1.1. Diện mạo chung của thơ ca dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam

1.1.1. Giai đoạn sau 1975 đến nay

1.2. Lò Ngân Sủn - nhà thơ tiêu biểu của đồng bào dân tộc Giáy

1.2.1. Nét đặc sắc của Văn hóa Giáy

1.2.2. Nền văn học dân gian Giáy phong phú, đa dạng

1.2.3. Hành trình sáng tác của nhà thơ Lò Ngân Sủn

1.3. Tiểu kết chương 1

2. Chương 2: NHỮNG CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG THƠ LÒ NGÂN SỦN

2.1. Cảm hứng ngợi ca, tự hào về thiên nhiên quê hương làng bản và con người miền núi

2.1.1. Cảm hứng ngợi ca vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ và thơ mộng, trữ tình của núi rừng Tây Bắc

2.1.2. Cảm hứng tự hào về sức sống mạnh mẽ, bền bỉ và vẻ đẹp tâm hồn người miền núi

2.2. Cảm hứng trân trọng những giá trị truyền thống của nền văn hóa Giáy

2.3. Cảm hứng nồng nàn, say đắm đầy chất phồn thực trong tình yêu đôi lứa

2.4. Cảm hứng suy tư, chiêm nghiệm trước cuộc đời và thế sự

2.4.1. Những triết lý về lẽ sống và những trăn trở trước cuộc đời

2.4.2. Những chiêm nghiệm, suy tư về thủ đô Hà Nội và những người nghệ sĩ tài năng

2.5. Tiểu kết chương 2

3. Chương 3: BIỂU TƯỢNG, NGÔN NGỮ VÀ THỂ THƠ TRONG THƠ LÒ NGÂN SỦN

3.1. Những biểu tượng đặc trưng tiêu biểu

3.1.1. Biểu tượng kèn Pí lè

3.2. Ngôn ngữ thơ mang màu sắc riêng

3.2.1. Ngôn ngữ mộc mạc giản, giản dị, gần gũi với người dân miền núi

3.2.2. Ngôn ngữ mang màu sắc văn hóa Giáy

3.3. Sử dụng đa dạng các thể thơ

3.4. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan Luận văn Thạc sĩ Phân tích Thơ Lò Ngân Sủn 55

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thơ Lò Ngân Sủn mở ra một không gian khám phá văn học độc đáo. Lò Ngân Sủn là một nhà thơ dân tộc Giáy tiêu biểu, có nhiều đóng góp cho nền văn học dân tộc. Nghiên cứu này không chỉ là sự phân tích thơ Lò Ngân Sủn mà còn là sự trân trọng những giá trị văn hóa của một dân tộc thiểu số.

Thơ Lò Ngân Sủn mang đậm hơi thở của núi rừng Tây Bắc, thể hiện rõ bản sắc văn hóa Giáy. Tác phẩm của ông là sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố truyền thống và hiện đại, giữa cái riêng và cái chung. Luận văn thạc sĩ đi sâu vào phân tích những đặc điểm này, làm nổi bật vị trí của Lò Ngân Sủn trong nền văn học Việt Nam. Đồng thời, luận văn cũng là một tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai muốn tìm hiểu về thơ ca dân tộc thiểu số.

Tuy nhiên, những nghiên cứu chuyên sâu về thơ Lò Ngân Sủn còn khá hạn chế. Cần có thêm nhiều công trình nghiên cứu để làm rõ hơn về những đóng góp và giá trị của ông. Luận văn này hy vọng sẽ góp phần vào việc lấp đầy khoảng trống đó, mang đến một cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về thơ Lò Ngân Sủn.

Theo khảo sát, mới chỉ có một luận văn thạc sỹ nghiên cứu về thơ Lò Ngân Sủn và Pờ Sảo Mìn. Ngoài ra, có một số bài nghiên cứu, phê bình về thơ Lò Ngân Sủn của các tác giả. Những nghiên cứu này mới chỉ điểm qua hoặc là những nét phác thảo chưa thật sự hoàn thiện và hệ thống. Để thấy được những nét đặc sắc cũng như những đóng góp của thơ Lò Ngân Sủn trong mảng thơ ca dân tộc thiểu số, cần phải xâu chuỗi cả đời thơ hơn nửa thế kỷ của ông ở mọi khía cạnh từ phương tiện nội dung đến hình thức nghệ thuật mới thấy được sự đóng góp đáng trân trọng của Lò Ngân Sủn trong suốt 69 năm qua.

1.1. Giới thiệu chung về nhà thơ Lò Ngân Sủn và sự nghiệp 58

Nhà thơ Lò Ngân Sủn, niềm tự hào của dân tộc Giáy, sinh ra và lớn lên ở Bát Xát, Lào Cai. Ông là tác giả của nhiều tập thơ, truyện ký, tiểu luận và các bài nghiên cứu, sưu tầm, biên dịch. Trong thơ ông, vẻ đẹp của núi rừng, con ngườivăn hóa Giáy được thể hiện một cách tự nhiên, giản dị và sinh động.

Lò Ngân Sủn đã giúp người đọc hình dung về tư duy, triết lý sống và ước nguyện của cộng đồng dân tộc Giáy, thấy cả một lớp trầm tích văn hóa sâu kín trong tâm hồn dân tộc Giáy qua tục ngữ, dân ca. Ông là một trong số những nhà thơ có đóng góp quan trọng làm phong phú diện mạo thơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại.

1.2. Lý do chọn đề tài luận văn và mục tiêu nghiên cứu 59

Việc lựa chọn đề tài "Thơ Lò Ngân Sủn" xuất phát từ sự thiếu vắng những nghiên cứu chuyên sâu về tác giả này. Luận văn mong muốn khám phá những đặc sắc trong tư duy của Lò Ngân Sủn, giúp người đọc có cái nhìn rõ hơn về phong cách nghệ thuật của ông. Đồng thời, luận văn cũng hướng đến việc bảo tồn và quảng bá văn học dân tộc thiểu số trong đời sống văn học đương đại.

Luận văn được thực hiện thành công sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích cho bạn đọc và những người quan tâm khi tìm hiểu về thơ Lò Ngân Sủn nói riêng và thơ ca dân tộc thiểu số nói chung.

II. Thơ Lò Ngân Sủn Thách thức trong nghiên cứu và phân tích 58

Nghiên cứu thơ Lò Ngân Sủn đặt ra nhiều thách thức. Thứ nhất, cần phải hiểu sâu sắc về văn hóa dân tộc Giáy, phong tục tập quán và đời sống tinh thần của người dân nơi đây. Thứ hai, cần có phương pháp phân tích thơ ca phù hợp để làm nổi bật những giá trị nghệ thuật và nội dung trong tác phẩm của ông. Thứ ba, cần phải đặt thơ Lò Ngân Sủn trong bối cảnh chung của văn học dân tộc thiểu sốvăn học hiện đại Việt Nam để đánh giá đúng vị trí và đóng góp của ông.

Một trong những khó khăn lớn nhất là việc tiếp cận các nguồn tư liệu về Lò Ngân Sủnvăn hóa Giáy. Nhiều tài liệu còn nằm rải rác, chưa được hệ thống hóa. Bên cạnh đó, việc diễn giải biểu tượngngôn ngữ trong thơ ông cũng đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về văn hóa dân tộc.

Thơ Lò Ngân Sủn cần được nhìn nhận một cách toàn diện, không chỉ ở khía cạnh nghệ thuật mà còn ở khía cạnh văn hóa và xã hội. Cần phải vượt qua những rào cản về ngôn ngữ và văn hóa để hiểu được những thông điệp mà ông muốn gửi gắm.

2.1. Khó khăn trong việc tiếp cận và diễn giải văn hóa Giáy 59

Văn hóa Giáy, với những phong tục tập quán độc đáo và đời sống tinh thần phong phú, là một phần quan trọng trong thơ Lò Ngân Sủn. Tuy nhiên, việc tiếp cận và diễn giải những yếu tố văn hóa này không hề dễ dàng. Cần phải có kiến thức sâu rộng về lịch sử, địa lý, dân tộc họcngôn ngữ để hiểu được ý nghĩa thực sự của những hình ảnh, biểu tượng trong thơ ông.

2.2. Yêu cầu về phương pháp phân tích thơ ca phù hợp 60

Để phân tích thơ Lò Ngân Sủn một cách hiệu quả, cần phải lựa chọn phương pháp phù hợp. Phương pháp phân tích cần phải kết hợp giữa phân tích văn bản, phân tích văn hóaphân tích xã hội để làm nổi bật những giá trị nghệ thuật và nội dung trong tác phẩm của ông. Đồng thời, cần phải chú ý đến những đặc điểm riêng của thơ ca dân tộc thiểu số để tránh áp đặt những tiêu chuẩn của văn học chính thống.

2.3. Hạn chế về nguồn tài liệu nghiên cứu về thơ Lò Ngân Sủn 58

Các công trình nghiên cứu về thơ Lò Ngân Sủn vẫn còn rất hạn chế. Mới chỉ có một luận văn thạc sỹ nghiên cứu về thơ Lò Ngân Sủn và Pờ Sảo Mìn. Ngoài ra, có một số bài nghiên cứu, phê bình về thơ Lò Ngân Sủn của tác giả Vũ Quần Phương, Irasara, Bùi Tuyết Mai, Lê Thiếu Nhơn, Nguyễn Phương Ly, Trần Thị Việt Trung, Cao Thị Hảo. Những nghiên cứu này mới chỉ điểm qua hoặc là những nét phác thảo chưa thật sự hoàn thiện và hệ thống.

III. Phân tích Cảm hứng chủ đạo trong thơ Lò Ngân Sủn 57

Thơ Lò Ngân Sủn được nuôi dưỡng bằng những cảm hứng chủ đạo. Đó là tình yêu quê hương, niềm tự hào về dân tộc, sự trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống và những suy tư về cuộc đời, thế sự. Những cảm hứng này đã tạo nên một thế giới thơ phong phú và đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc.

Cảm hứng về thiên nhiên, con người và văn hóa Giáy là nguồn cảm hứng lớn nhất trong thơ Lò Ngân Sủn. Ông đã khắc họa một cách chân thực và sinh động vẻ đẹp của núi rừng Tây Bắc, sự cần cù, chất phác của người dân và những phong tục tập quán độc đáo của dân tộc Giáy.

Bên cạnh đó, thơ Lò Ngân Sủn còn thể hiện những cảm xúc cá nhân sâu sắc về tình yêu, cuộc sống và con người. Những bài thơ tình của ông mang đậm chất phồn thực, thể hiện khát vọng sống và yêu một cách mãnh liệt. Những bài thơ triết lý của ông lại thể hiện sự suy tư về lẽ sống, về những giá trị vĩnh hằng.

3.1. Cảm hứng về vẻ đẹp thiên nhiên và con người miền núi 58

Thiên nhiên và con người miền núi là nguồn cảm hứng lớn trong thơ Lò Ngân Sủn. Ông đã khắc họa vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng của núi rừng Tây Bắc, sự cần cù, chất phác của người dân và những phong tục tập quán độc đáo của dân tộc Giáy. Ông yêu tất cả những đồi núi hoang vu, yêu cuộc sống rơm rạ, yêu con người miền núi tim thẳng, yêu những đêm hát đối, đêm mo then, đêm pí lè...

3.2. Cảm hứng về tình yêu đôi lứa và khát vọng sống 59

Thơ tình của Lò Ngân Sủn mang đậm chất phồn thực, thể hiện khát vọng sống và yêu một cách mãnh liệt. Tình yêu trong thơ ông mộc mạc, giản dị như ngôn ngữ nói hàng ngày và được bày tỏ một cách trực diện rất gần với cách cảm, cách nghĩ của người dân tộc.

3.3. Cảm hứng về những giá trị văn hóa truyền thống 58

Thơ Lò Ngân Sủn thể hiện sự trân trọng đặc biệt với những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Những phong tục, tập quán, những nét văn hóa đặc sắc của quê hương với đêm hát đối, đêm mo then, đêm pí lè, đêm gà gáy thức dậy đi chợ phiên … đã ngấm vào tâm hồn ông trong từng sợi tơ cảm xúc.

IV. Phương pháp Phân tích Biểu tượng Ngôn ngữ Thơ Lò Ngân Sủn 60

Để hiểu sâu sắc thơ Lò Ngân Sủn, cần phải phân tích những biểu tượngngôn ngữ mà ông sử dụng. Biểu tượng trong thơ ông thường mang đậm dấu ấn của văn hóa Giáy, thể hiện những quan niệm về vũ trụ, con người và cuộc sống. Ngôn ngữ trong thơ ông mộc mạc, giản dị nhưng giàu hình ảnh và cảm xúc, gần gũi với lời ăn tiếng nói của người dân miền núi.

Phân tích biểu tượngngôn ngữ giúp ta khám phá những tầng nghĩa sâu xa trong thơ Lò Ngân Sủn, thấy được những thông điệp mà ông muốn gửi gắm. Đồng thời, cũng giúp ta hiểu rõ hơn về thế giới quan và nhân sinh quan của người dân dân tộc Giáy.

Những biểu tượng, ngôn ngữ đặc trưng trong thơ ông đó là tiếng kèn Pí lè, chợ phiên, chợ tình. Đó là những hình ảnh mang bản sắc Giáy rõ nét.

4.1. Phân tích các biểu tượng đặc trưng trong thơ Lò Ngân Sủn 60

Những biểu tượng trong thơ Lò Ngân Sủn thường mang đậm dấu ấn của văn hóa Giáy, thể hiện những quan niệm về vũ trụ, con người và cuộc sống. Những biểu tượng, ngôn ngữ đặc trưng trong thơ ông đó là tiếng kèn Pí lè, chợ phiên, chợ tình. Cần phải hiểu rõ ý nghĩa của những biểu tượng này để giải mã những thông điệp mà ông muốn truyền tải.

4.2. Nghiên cứu ngôn ngữ thơ Đặc điểm và giá trị biểu đạt 60

Ngôn ngữ trong thơ Lò Ngân Sủn mộc mạc, giản dị nhưng giàu hình ảnh và cảm xúc, gần gũi với lời ăn tiếng nói của người dân miền núi. Ngôn ngữ thơ luôn mang tính hình tượng, gợi cảm và hàm súc. Các nhà thơ dân tộc thiểu số sử dụng ngôn ngữ bằng tư duy, lối cảm, lối nghĩ của dân tộc mình vì vậy có nét độc đáo riêng.

V. Luận văn Ứng dụng và đóng góp của thơ Lò Ngân Sủn 58

Luận văn không chỉ là một công trình nghiên cứu thơ ca mà còn là một sự đóng góp vào việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc Giáy. Đồng thời, luận văn cũng là một tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai muốn tìm hiểu về văn học dân tộc thiểu sốthơ ca Việt Nam đương đại.

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được ứng dụng trong việc giảng dạy văn học ở các trường học, giúp học sinh hiểu rõ hơn về văn hóacon người Việt Nam. Ngoài ra, luận văn cũng có thể được sử dụng để quảng bá thơ Lò Ngân Sủnvăn học dân tộc thiểu số đến với đông đảo công chúng.

Nghiên cứu này hy vọng sẽ khơi gợi sự quan tâm của cộng đồng đối với văn học dân tộc thiểu số, khuyến khích các nhà nghiên cứu tiếp tục khám phá những giá trị văn hóa độc đáo của các dân tộc anh em.

5.1. Giá trị tham khảo và ứng dụng trong giảng dạy văn học 59

Luận văn là một tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai muốn tìm hiểu về thơ Lò Ngân Sủnvăn học dân tộc thiểu số. Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được ứng dụng trong việc giảng dạy văn học ở các trường học, giúp học sinh hiểu rõ hơn về văn hóacon người Việt Nam.

5.2. Góp phần bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Giáy 59

Luận văn không chỉ là một công trình nghiên cứu thơ ca mà còn là một sự đóng góp vào việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc Giáy. Những phân tích, đánh giá trong luận văn giúp người đọc hiểu rõ hơn về văn hóa, phong tục, tập quán của dân tộc, từ đó nâng cao ý thức bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa đó.

VI. Kết luận Tương lai nghiên cứu Thơ Lò Ngân Sủn 54

Nghiên cứu thơ Lò Ngân Sủn là một hành trình khám phá văn học đầy thú vị và ý nghĩa. Luận văn đã góp phần làm rõ hơn về những giá trị nghệ thuật và nội dung trong tác phẩm của ông, đồng thời khẳng định vị trí của ông trong nền văn học Việt Nam.

Trong tương lai, cần có thêm nhiều nghiên cứu chuyên sâu hơn về thơ Lò Ngân Sủn, đặc biệt là những nghiên cứu về phong cách nghệ thuật, biểu tượngngôn ngữ của ông. Bên cạnh đó, cũng cần chú trọng đến việc dịch thuật và giới thiệu thơ Lò Ngân Sủn ra thế giới để quảng bá văn học Việt Nam đến với bạn bè quốc tế.

Hy vọng rằng, những nỗ lực nghiên cứu và quảng bá thơ Lò Ngân Sủn sẽ góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam và thế giới.

6.1. Tổng kết những đóng góp chính của luận văn 58

Luận văn đã góp phần làm rõ hơn về những giá trị nghệ thuật và nội dung trong tác phẩm của Lò Ngân Sủn, khẳng định vị trí của ông trong nền văn học Việt Nam, khám phá những giá trị văn hóa độc đáo của dân tộc Giáy, và cung cấp tài liệu tham khảo hữu ích cho những người quan tâm đến văn học dân tộc thiểu số.

6.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo về thơ Lò Ngân Sủn 59

Trong tương lai, cần có thêm nhiều nghiên cứu chuyên sâu hơn về thơ Lò Ngân Sủn, đặc biệt là những nghiên cứu về phong cách nghệ thuật, biểu tượng, ngôn ngữảnh hưởng của ông. Bên cạnh đó, cũng cần chú trọng đến việc dịch thuật và giới thiệu thơ Lò Ngân Sủn ra thế giới.

02/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 THƠ LÒ NGÂN SỦN TRONG NGUỒN MẠCH THƠ CA DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM 1. Diện mạo chung của thơ ca dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam Tây Bắc được biết đến là miền đất của núi rừng và cao nguyên với bạt ngàn hoa ban nở trắng muốt. Đây là không gian văn hóa của hơn hai mươi dân tộc khác nhau như: Mông, Dao, Tày, Nùng, Thái, Giáy,… Điều kiện sinh sống và phương thức lao động sản xuất đã tạo lên những nét độc đáo về văn hóa, văn học. Xét riêng trong lĩnh vực thơ ca, vùng đất này là nơi nuôi dưỡng, nơi khơi nguồn cảm hứng cho nhiều nhà thơ dân tộc thiểu số Việt Nam thời kỳ hiện đại.

Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi xin điểm lại thơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại khu vực phía Bắc qua hai giai đoạn, giai đoạn 1945 - 1975 và từ sau 1975 đến nay. Giai đoạn 1945 - 1975 Đây là thời kì thơ ca Việt Nam nói chung và thơ ca dân tộc thiểu số nói riêng phát triển khá mạnh mẽ. Nội dung thơ ca thời kì này phản ánh cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đầy gian khổ nhưng hào hùng của dân tộc Việt Nam. Đáng kể nhất là Việt Bắc đáng giặc (1948), Dọn về làng (1950), Nói với các anh (1953), Thư lên Điện Biên (1954).

của Nông Quốc Chấn ; Đêm ba khe (1952), Người thanh niên giữ đèo Giàng, Gửi anh bạn Triều Tiên (1953)… của Nông Minh Châu; Vợ lính ngụy mong chồng (1949), Gái thời giặc (1950), Mường muối yên vui (1954) của Cầm Biêu, Dặn vợ, dặn con(19440), Mừng thủ đô giải phóng (1954)… của Bàn Tài Đoàn; Rừng sáng của Mã A Lềnh; Tung còn và suối đàn (1973), Tiếng hát rừng xa, Nắng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 8 http://www.vn/ download by : skknchat@gmail.com ngàn, Bốn mùa hoa (1974) của triều Ân… Cảm hứng chính của thơ ca thời kì này là sự kết hợp giữa tư tưởng yêu nước, yêu quê hương, lòng tự hào và tự tôn dân tộc. Nhiều nhà thơ đã ghi lại những mốc lịch sử và cách mạng của dân tộc trong kháng chiến như Nông Quốc Chấn với truyện thơ Việt Bắc đánh giặc được viết bằng tiếng Tày, dài 2000 câu. Nhà thơ đã dựng lại không khí cách mạng ở Việt Bắc thời kì trước và sau cách mạng. Bài thơ Dọn về làng (1950) là một trong những bài thơ tiêu biểu viết về cuộc sống của người dân miền núi dưới ách áp bức và cuộc sống tươi sáng khi quê hương được giải phóng: Hôm nay Cao - Bắc - Lạng cười vang Dọn lán, rời rừng, người xuống làng Người nói cỏ lay trong ruộng rậm Con cày mẹ phát ruộng ta quang (Dọn về làng) Cuộc sống mới của đồng bào dân tộc thiểu số miền Bắc khi đất nước bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với bao niềm hân hoan được phản ánh trong thơ Nông Quốc Chấn, Vương Trung, cầm Biêu, Triều Ân… Đó là tình yêu quê hương, niềm vui trong lao động, say mê xây dựng cuộc sống mới: Rộn rã câu hò bên núi thắm Má hồng gió bấc thổi không phai (Triều Ân - Quê ta anh biết chăng) Đi thuyền ba bể dọc ngang Xem người đánh cá, xem nàng hái ngô Hoa sơn hoa nở bồn mùa Ve kêu chim hót ước mơ phặc phiền… (Nông Quốc Chấn - Tiếng ca người Việt Bắc) Một trong những đặc điểm nổi bật của thơ ca các dân tộc thiểu số thời kì này là sự ảnh hưởng và kế thừa thơ ca dân gian truyền thống trong thể thơ bảy chữ tám dòng, bảy chữ bốn dòng kéo dài, thơ đường luật.

Tính truyền thống Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 9 http://www.vn/ download by : skknchat@gmail.com còn thể hiện trong làn điệu dân ca: Sli (Nùng), Lượn (Tày), Khắp (Thái), Páo dung (Dao)… Bàn Tài Đoàn là người sử dụng trung thành nhất với thể thơ truyền thống xưa của dân tộc Dao, hay Cầm Biêu luôn giữ nét đặc trưng của đồng bào dân tộc Thái. Nhiều tác phẩm được sáng tác bằng tiếng dân tộc phản ánh đúng tâm tư tình cảm, cách nói, cách nghĩ của đồng bào dân tộc thiểu số như thơ Nông Quốc Chấn, Cầm Biêu. Bên cạnh những thể thơ truyền thống, nhiều nhà thơ đã có sự ảnh hưởng rõ rệt của thi pháp thơ ca hiện đại như Lương Quý Nhân, Vương Anh, Triều Ân. Có những câu thơ không mang màu sắc dân tộc miền núi, nghe giống như thơ của các nhà thơ người Kinh: Em lẫn vào trong anh Anh lẫn vào ngàn lá Tóc em thơm mùi cỏ Huyền diệu và nguyên sơ (Giàng Xuân Hồ - Lên cao nguyên) Thơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại từ 1945 - 1975 là thời kì thăng hoa với đội ngũ nhà thơ đông đảo, số lượng tác phẩm nhiều, chất lượng sáng tác cao tạo ra sự phong phú đa dạng cho diện mạo văn học việt nam nói chung và thơ miền núi nói riêng.

Các nhà thơ ảnh hưởng sâu sắc của thi pháp thơ ca dân gian nhưng vẫn có không ít tác phẩm ảnh hưởng của thi pháp thơ hiện đại. Sự kết hợp hài hòa hai xu hướng này sẽ tạo ra gương mặt văn học cho thời kì tiếp theo.2 Giai đoạn từ sau 1975 đến nay Đất nước đã vẹn toàn một dải, non sông đã thu về một mối, bản tình ca chiến đấu năm xưa giờ thành bản tình ca xây dưng cuộc sống mới. Từ sau năm 1975 đến nay, thơ ca dân tộc thiểu số phát triển mau chóng, chưa bao giờ đội ngũ nhà thơ lại đông đúc như vậy. Những tác giả thuộ lớp thế hệ trước vẫn sáng tác chắc khỏe và đều tay.

Họ cho ra đời nhiều tập thơ: Dòng thác (1977), Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 10 http://www.vn/ download by : skknchat@gmail.com Bài thơ Pác Bó (1982), Suối và biển (1984) của Nông Quốc Chấn; Trên núi vẫn là nơi ta ở (1979), Bước đường tôi đi (1985), Tìm ban rừng (1999), Bó đuốc sáng (2002) của Bàn Tài Đoàn; Rượu mặn, Lá đắng (1993), Tình Viêng Chăn (2000)… của Vương Anh; Chốn xa xăm (1990) của Triều Ân; Sóng Nậm Rốn (1998) của vương Trung… Đặc biệt sự xuất hiện đông đảo của đội ngũ các nhà thơ thuộc thế hệ sau với sức sáng tác mạnh, cho ra đời hàng trăm tác phẩm thơ với cách thể hiện khác nhau, giọng điệu khác nhau: Tiếng hát tháng giêng (1986), Lửa hồng một góc (1987), Đàn then(1996), Ngược gió (2006) … của Y Phương; Chiều biên giới (1989), Những người con của núi (1990), Đám cưới (1992), Đường dốc (1993), Chợ tình (1995), Con của núi, Lều nương (1996), Người đẹp(1999) … của Lò Ngân Sủn; Cây hai ngàn lá (1992), Bài ca hoang dã (1993), Con trai người Pa Dí (2001)… của Pờ Sảo Mìn; Điều có thật từ câu dân ca (1988), Tình thơ Cao Lan (1997)… của Lâm Quý; Mát xanh rừng cọ (1983), Tiếng lá rừng gọi đôi (1996), Câu hát vắt qua vai(2005) của Ma Trường Nguyên; Đi tìm bóng núi (1993), Mười bảy khúc đảo ca (2000)… của Dương Thuấn; Suối làng (1994), Mây vẫn bay về núi (2001) của Mai Liễu; Lối nhỏ (1988) của Dư Thị Hoàn; Hoa núi (1990), Mùa Sa nhân(1994), Con của núi (2002)… của Triệu Kim Văn; Người Mông nhớ Bác Hồ của Hùng Đình Quý; Lời ru cho mình (1999), Lời của lá (2000), Vườn duyên (2002) của Nông Thị Ngọc Hòa ; Rượu núi (1996), Theo lời hát về nguồn (2001) của Lò Cao Nhum… Thiên nhiên, cuộc sống con người và văn hóa dân tộc đã đi vào mỗi trang thơ của các nhà thơ dân tộc thiểu số một cách tự nhiên, thân thuộc vì cuộc sống là nguồn vô tận của thơ ca. Theo lý giải của Giáo sư Trần Đình Sử: “Xúc cảm thơ bắt nguồn từ sự đồng cảm sự sống giữa con người với thiên nhiên, ngoại giới thể hiện trong sự hốn hợp giữa tình và cảnh, tình và sự việc” [41, Tr. Một loạt các tác phẩm thơ mà chỉ cần đọc tên người ta đã thấy niềm tự hào dân tộc, bản sắc dân tộc trong đó: Tiếng hát tháng giêng (1986), Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 11 http://www.vn/ download by : skknchat@gmail.com Đàn Then 1996) của Y Phương; Cây hai ngàn lá, Bài ca hoang dã (1995) của Pờ Sảo Mìn; Đi tìm bóng núi(1993) của Dương Thuấn; Chiều biên giới (1989), Những người con của núi (1990) của Lò Ngân Sủn… Các nhà thơ miền núi gắn bó sâu nặng và trân trọng vẻ đẹp của quê hương mình, họ đã phản ánh tất cả những đa dạng phong phú của đời sống và cả những chuyển biến, những đổi thay trong tâm hồn con người. Họ khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên, của núi rừng, sông suối trên quê hương mình nhưng mỗi nhà thơ lại có một cảm nhận rất riêng mang đến sự lạ hóa cho cảm xúc thẩm mỹ của người đọc.

Hình ảnh con người miền núi trong thơ của các nhà thơ dân tộc thiểu số hiện lên không phải là những con người chung chung mà “tổng hòa các mối quan hệ xã hội ”. Thơ ca luôn là bức tranh phản ánh cuộc sống nhiều màu sắc, mỗi nhà thơ đều cố gắng in dấu tâm hồn dân tộc mình trong mỗi trang thơ, họ viết về cuộc sống xung quanh bằng tình yêu thiết tha, bằng suy ngẫm, chiêm nghiệm của bản thân, truyền tải những cảm xúc sâu lắng đến người đọc và cả những triết lý mang giá trị nhân bản sâu sắc. Có thể kể đến các tập thơ đặc sắc như Chiều biên giới, Người con của núi của Lò Ngân Sủn; Cây hai ngàn lá, Người con trai Pa Dí của Pờ Sảo Mìn; Người núi, Cô gái người Dao, Mẹ núi của Lâm Quý; Tìm lại tuổi thơ của Nông Thị Ngọc Hòa, Người vùng cao của Y Phương; Người xứ mây của Dương Thuấn. Các thể thơ truyền thống của dân tộc như thơ Đường luật, tứ tuyệt, lục bát, năm chữ, bảy chữ, tám chữ… đều được các nhà thơ sử dụng một cách hiệu quả.

Lò Ngân Sủn sáng tác thơ lục bát khá nhuần nhuyễn, Dương Thuấn có thơ bảy chữ, Nông Thị Ngọc Hòa sáng tác thể thơ tám chữ… Tuy nhiên các nhà thơ dân tộc thiểu số lại chủ động phá vỡ cấu trúc thơ truyền thống. Trong nỗ lực đổi mới cách tân thơ, họ cũng tìm đến thơ tự do như một sự lựa chọn tất yếu trong quá trình vận động. Bởi thể thơ này rất phù hợp với tính cách mạnh mẽ, phóng khoáng phảng chút hoang dại của đồng bào miền Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 12 http://www.vn/ download by : skknchat@gmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ