Chương 1 THƠ LÒ NGÂN SỦN TRONG NGUỒN MẠCH THƠ CA DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM 1. Diện mạo chung của thơ ca dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam Tây Bắc được biết đến là miền đất của núi rừng và cao nguyên với bạt ngàn hoa ban nở trắng muốt. Đây là không gian văn hóa của hơn hai mươi dân tộc khác nhau như: Mông, Dao, Tày, Nùng, Thái, Giáy,… Điều kiện sinh sống và phương thức lao động sản xuất đã tạo lên những nét độc đáo về văn hóa, văn học. Xét riêng trong lĩnh vực thơ ca, vùng đất này là nơi nuôi dưỡng, nơi khơi nguồn cảm hứng cho nhiều nhà thơ dân tộc thiểu số Việt Nam thời kỳ hiện đại.
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi xin điểm lại thơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại khu vực phía Bắc qua hai giai đoạn, giai đoạn 1945 - 1975 và từ sau 1975 đến nay. Giai đoạn 1945 - 1975 Đây là thời kì thơ ca Việt Nam nói chung và thơ ca dân tộc thiểu số nói riêng phát triển khá mạnh mẽ. Nội dung thơ ca thời kì này phản ánh cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đầy gian khổ nhưng hào hùng của dân tộc Việt Nam. Đáng kể nhất là Việt Bắc đáng giặc (1948), Dọn về làng (1950), Nói với các anh (1953), Thư lên Điện Biên (1954).
của Nông Quốc Chấn ; Đêm ba khe (1952), Người thanh niên giữ đèo Giàng, Gửi anh bạn Triều Tiên (1953)… của Nông Minh Châu; Vợ lính ngụy mong chồng (1949), Gái thời giặc (1950), Mường muối yên vui (1954) của Cầm Biêu, Dặn vợ, dặn con(19440), Mừng thủ đô giải phóng (1954)… của Bàn Tài Đoàn; Rừng sáng của Mã A Lềnh; Tung còn và suối đàn (1973), Tiếng hát rừng xa, Nắng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 8 http://www.vn/ download by : skknchat@gmail.com ngàn, Bốn mùa hoa (1974) của triều Ân… Cảm hứng chính của thơ ca thời kì này là sự kết hợp giữa tư tưởng yêu nước, yêu quê hương, lòng tự hào và tự tôn dân tộc. Nhiều nhà thơ đã ghi lại những mốc lịch sử và cách mạng của dân tộc trong kháng chiến như Nông Quốc Chấn với truyện thơ Việt Bắc đánh giặc được viết bằng tiếng Tày, dài 2000 câu. Nhà thơ đã dựng lại không khí cách mạng ở Việt Bắc thời kì trước và sau cách mạng. Bài thơ Dọn về làng (1950) là một trong những bài thơ tiêu biểu viết về cuộc sống của người dân miền núi dưới ách áp bức và cuộc sống tươi sáng khi quê hương được giải phóng: Hôm nay Cao - Bắc - Lạng cười vang Dọn lán, rời rừng, người xuống làng Người nói cỏ lay trong ruộng rậm Con cày mẹ phát ruộng ta quang (Dọn về làng) Cuộc sống mới của đồng bào dân tộc thiểu số miền Bắc khi đất nước bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với bao niềm hân hoan được phản ánh trong thơ Nông Quốc Chấn, Vương Trung, cầm Biêu, Triều Ân… Đó là tình yêu quê hương, niềm vui trong lao động, say mê xây dựng cuộc sống mới: Rộn rã câu hò bên núi thắm Má hồng gió bấc thổi không phai (Triều Ân - Quê ta anh biết chăng) Đi thuyền ba bể dọc ngang Xem người đánh cá, xem nàng hái ngô Hoa sơn hoa nở bồn mùa Ve kêu chim hót ước mơ phặc phiền… (Nông Quốc Chấn - Tiếng ca người Việt Bắc) Một trong những đặc điểm nổi bật của thơ ca các dân tộc thiểu số thời kì này là sự ảnh hưởng và kế thừa thơ ca dân gian truyền thống trong thể thơ bảy chữ tám dòng, bảy chữ bốn dòng kéo dài, thơ đường luật.
Tính truyền thống Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 9 http://www.vn/ download by : skknchat@gmail.com còn thể hiện trong làn điệu dân ca: Sli (Nùng), Lượn (Tày), Khắp (Thái), Páo dung (Dao)… Bàn Tài Đoàn là người sử dụng trung thành nhất với thể thơ truyền thống xưa của dân tộc Dao, hay Cầm Biêu luôn giữ nét đặc trưng của đồng bào dân tộc Thái. Nhiều tác phẩm được sáng tác bằng tiếng dân tộc phản ánh đúng tâm tư tình cảm, cách nói, cách nghĩ của đồng bào dân tộc thiểu số như thơ Nông Quốc Chấn, Cầm Biêu. Bên cạnh những thể thơ truyền thống, nhiều nhà thơ đã có sự ảnh hưởng rõ rệt của thi pháp thơ ca hiện đại như Lương Quý Nhân, Vương Anh, Triều Ân. Có những câu thơ không mang màu sắc dân tộc miền núi, nghe giống như thơ của các nhà thơ người Kinh: Em lẫn vào trong anh Anh lẫn vào ngàn lá Tóc em thơm mùi cỏ Huyền diệu và nguyên sơ (Giàng Xuân Hồ - Lên cao nguyên) Thơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại từ 1945 - 1975 là thời kì thăng hoa với đội ngũ nhà thơ đông đảo, số lượng tác phẩm nhiều, chất lượng sáng tác cao tạo ra sự phong phú đa dạng cho diện mạo văn học việt nam nói chung và thơ miền núi nói riêng.
Các nhà thơ ảnh hưởng sâu sắc của thi pháp thơ ca dân gian nhưng vẫn có không ít tác phẩm ảnh hưởng của thi pháp thơ hiện đại. Sự kết hợp hài hòa hai xu hướng này sẽ tạo ra gương mặt văn học cho thời kì tiếp theo.2 Giai đoạn từ sau 1975 đến nay Đất nước đã vẹn toàn một dải, non sông đã thu về một mối, bản tình ca chiến đấu năm xưa giờ thành bản tình ca xây dưng cuộc sống mới. Từ sau năm 1975 đến nay, thơ ca dân tộc thiểu số phát triển mau chóng, chưa bao giờ đội ngũ nhà thơ lại đông đúc như vậy. Những tác giả thuộ lớp thế hệ trước vẫn sáng tác chắc khỏe và đều tay.
Họ cho ra đời nhiều tập thơ: Dòng thác (1977), Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 10 http://www.vn/ download by : skknchat@gmail.com Bài thơ Pác Bó (1982), Suối và biển (1984) của Nông Quốc Chấn; Trên núi vẫn là nơi ta ở (1979), Bước đường tôi đi (1985), Tìm ban rừng (1999), Bó đuốc sáng (2002) của Bàn Tài Đoàn; Rượu mặn, Lá đắng (1993), Tình Viêng Chăn (2000)… của Vương Anh; Chốn xa xăm (1990) của Triều Ân; Sóng Nậm Rốn (1998) của vương Trung… Đặc biệt sự xuất hiện đông đảo của đội ngũ các nhà thơ thuộc thế hệ sau với sức sáng tác mạnh, cho ra đời hàng trăm tác phẩm thơ với cách thể hiện khác nhau, giọng điệu khác nhau: Tiếng hát tháng giêng (1986), Lửa hồng một góc (1987), Đàn then(1996), Ngược gió (2006) … của Y Phương; Chiều biên giới (1989), Những người con của núi (1990), Đám cưới (1992), Đường dốc (1993), Chợ tình (1995), Con của núi, Lều nương (1996), Người đẹp(1999) … của Lò Ngân Sủn; Cây hai ngàn lá (1992), Bài ca hoang dã (1993), Con trai người Pa Dí (2001)… của Pờ Sảo Mìn; Điều có thật từ câu dân ca (1988), Tình thơ Cao Lan (1997)… của Lâm Quý; Mát xanh rừng cọ (1983), Tiếng lá rừng gọi đôi (1996), Câu hát vắt qua vai(2005) của Ma Trường Nguyên; Đi tìm bóng núi (1993), Mười bảy khúc đảo ca (2000)… của Dương Thuấn; Suối làng (1994), Mây vẫn bay về núi (2001) của Mai Liễu; Lối nhỏ (1988) của Dư Thị Hoàn; Hoa núi (1990), Mùa Sa nhân(1994), Con của núi (2002)… của Triệu Kim Văn; Người Mông nhớ Bác Hồ của Hùng Đình Quý; Lời ru cho mình (1999), Lời của lá (2000), Vườn duyên (2002) của Nông Thị Ngọc Hòa ; Rượu núi (1996), Theo lời hát về nguồn (2001) của Lò Cao Nhum… Thiên nhiên, cuộc sống con người và văn hóa dân tộc đã đi vào mỗi trang thơ của các nhà thơ dân tộc thiểu số một cách tự nhiên, thân thuộc vì cuộc sống là nguồn vô tận của thơ ca. Theo lý giải của Giáo sư Trần Đình Sử: “Xúc cảm thơ bắt nguồn từ sự đồng cảm sự sống giữa con người với thiên nhiên, ngoại giới thể hiện trong sự hốn hợp giữa tình và cảnh, tình và sự việc” [41, Tr. Một loạt các tác phẩm thơ mà chỉ cần đọc tên người ta đã thấy niềm tự hào dân tộc, bản sắc dân tộc trong đó: Tiếng hát tháng giêng (1986), Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 11 http://www.vn/ download by : skknchat@gmail.com Đàn Then 1996) của Y Phương; Cây hai ngàn lá, Bài ca hoang dã (1995) của Pờ Sảo Mìn; Đi tìm bóng núi(1993) của Dương Thuấn; Chiều biên giới (1989), Những người con của núi (1990) của Lò Ngân Sủn… Các nhà thơ miền núi gắn bó sâu nặng và trân trọng vẻ đẹp của quê hương mình, họ đã phản ánh tất cả những đa dạng phong phú của đời sống và cả những chuyển biến, những đổi thay trong tâm hồn con người. Họ khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên, của núi rừng, sông suối trên quê hương mình nhưng mỗi nhà thơ lại có một cảm nhận rất riêng mang đến sự lạ hóa cho cảm xúc thẩm mỹ của người đọc.
Hình ảnh con người miền núi trong thơ của các nhà thơ dân tộc thiểu số hiện lên không phải là những con người chung chung mà “tổng hòa các mối quan hệ xã hội ”. Thơ ca luôn là bức tranh phản ánh cuộc sống nhiều màu sắc, mỗi nhà thơ đều cố gắng in dấu tâm hồn dân tộc mình trong mỗi trang thơ, họ viết về cuộc sống xung quanh bằng tình yêu thiết tha, bằng suy ngẫm, chiêm nghiệm của bản thân, truyền tải những cảm xúc sâu lắng đến người đọc và cả những triết lý mang giá trị nhân bản sâu sắc. Có thể kể đến các tập thơ đặc sắc như Chiều biên giới, Người con của núi của Lò Ngân Sủn; Cây hai ngàn lá, Người con trai Pa Dí của Pờ Sảo Mìn; Người núi, Cô gái người Dao, Mẹ núi của Lâm Quý; Tìm lại tuổi thơ của Nông Thị Ngọc Hòa, Người vùng cao của Y Phương; Người xứ mây của Dương Thuấn. Các thể thơ truyền thống của dân tộc như thơ Đường luật, tứ tuyệt, lục bát, năm chữ, bảy chữ, tám chữ… đều được các nhà thơ sử dụng một cách hiệu quả.
Lò Ngân Sủn sáng tác thơ lục bát khá nhuần nhuyễn, Dương Thuấn có thơ bảy chữ, Nông Thị Ngọc Hòa sáng tác thể thơ tám chữ… Tuy nhiên các nhà thơ dân tộc thiểu số lại chủ động phá vỡ cấu trúc thơ truyền thống. Trong nỗ lực đổi mới cách tân thơ, họ cũng tìm đến thơ tự do như một sự lựa chọn tất yếu trong quá trình vận động. Bởi thể thơ này rất phù hợp với tính cách mạnh mẽ, phóng khoáng phảng chút hoang dại của đồng bào miền Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 12 http://www.vn/ download by : skknchat@gmail.