CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐO LƯỜNG VÀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH HỮU HÌNH TRONG DOANH NGHIỆP 1. ĐẶC ĐIỂM TÀI SẢN CỐ ĐỊNH HỮU HÌNH VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC KẾ TOÁN 1. Đặc điểm tài sản cố định hữu hình a.
Tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định hữu hình: Theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 03 (VAS số 03) thì tài sản cố định hữu hình (tangible fixed assets) là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐHH. Thông tư số 203/2009/TT-BTC về Hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định định nghĩa một cách cụ thể hơn. Theo đó, tài sản cố định hữu hình là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất thoả mãn các tiêu chuẩn của TSCĐHH, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải. Theo kế toán Việt Nam, các tài sản được ghi nhận là TSCĐHH phải thỏa mãn đồng thời tất cả bốn (4) tiêu chuẩn ghi nhận sau: - Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó; - Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy; - Thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm; - Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành (hiện tại là 10.
Tuy nhiên, theo chuẩn mực Kế toán quốc tế thì hai điều kiện để ghi nhận một khoản chi phí là tài sản cố định khi và chỉ khi khoản chi phí đó mang lại Luan van 5 lợi ích kinh tế trong tương lai và số tiền có thể xác định được một cách đáng tin cậy (tiêu chuẩn ghi nhận ban đầu của bất động sản, nhà xưởng, máy móc thiết bị). Giữa quan điểm của kế toán Việt Nam và kế toán quốc tế có sự khác biệt trong việc ghi nhận TSCĐHH. Chuẩn mực Kế toán quốc tế chỉ đưa ra hai tiêu chuẩn (là hai tiêu chuẩn đầu tiên của kế toán Việt Nam) trong khi đó kế toán Việt Nam có đưa thêm hai tiêu chuẩn về thời gian sử dụng ước tính và tiêu chuẩn về giá trị. Sự khác biệt này thật sự cũng là điều dễ hiểu vì kế toán quốc tế được ban hành để áp dụng chung cho nhiều quốc gia trên thế giới mà giá trị đồng tiền của các quốc gia là hoàn toàn khác nhau nên không thể xác định một tiêu chuẩn chung về giá trị cho tất cả các quốc gia được.
Quốc gia nào vận dụng kế toán quốc tế thì tùy tình hình thực tế của mình về đặc điểm kinh tế - xã hội, giá trị đồng tiền, hệ thống pháp luật có liên quan, … mà đưa ra một tiêu chuẩn giá trị về TSCĐHH cho quốc gia mình một cách hợp lý nhất. Tương tự như thế, mỗi quốc gia có một quan điểm khác nhau về khái niệm “năm tài chính” mặc dù rất nhiều quốc gia lựa chọn năm dương lịch trùng với năm tài chính. Tuy nhiên, khái niệm này còn tùy thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác như đặc thù DN, lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh,… Vì lý do đó chuẩn mực kế toán quốc tế không đưa ra một tiêu chuẩn về thời gian sử dụng của TSCĐHH. Đặc điểm tài sản cố định hữu hình Từ khái niệm về TSCĐHH, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra những đặc điểm của nó: Một là, đặc điểm đầu tiên dễ nhận thấy nhất của TSCĐHH là những tài sản có hình thể vật chất cụ thể, rõ ràng mà chúng ta có thể nhận diện, phân loại bằng mắt thường.
Luan van 6 Hai là, tài sản cố định hữu hình có đặc điểm cơ bản nhất là có thời gian sử dụng dài, nó đồng nghĩa với việc loại tài sản này sẽ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ba là, vì tham gia và nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh nên giá trị của TSCĐHH không chuyển dịch một lần vào giá trị của thực thể sản phẩm được tạo ra trong một kỳ kinh doanh mà giá trị của TSCĐHH sẽ bị hao mòn dần trong suốt quá trình sử dụng nó. Đặc điểm này dẫn đến một thuộc tính khác mà chỉ tồn tại ở loại tài sản này đó là khấu hao. Khấu hao là cách thức chủ quan của nhà quản lý để phân bổ giá trị của TSCĐHH vào chi phí của các chu kỳ kinh doanh mà TSCĐHH đó tham gia.
Bốn là, theo Kế toán Việt Nam thì tiêu chuẩn giá trị hiện hành của TSCĐHH là từ 10.000 đồng trở lên do đó đôi khi nó được hình thành từ một nguồn vốn hoặc nhiều nguồn vốn khác nhau. Vấn đề này chưa được đề cập trong kế toán quốc tế. Tất cả những đặc điểm này đều liên quan nhiều đến công tác kế toán của TSCĐHH trong các doanh nghiệp. Những ảnh hưởng đến công tác kế toán Do những đặc điểm cơ bản trên của TSCĐHH nên công tác kế toán đối với TSCĐHH bị ảnh hưởng rất lớn từ khâu xác định giá trị gốc ban đầu (xác định nguyên giá) cho tới khâu xác định giá trị hao mòn cũng như việc theo dõi chi tiết TSCĐHH.
Đầu tiên, từ khâu xác định giá trị gốc ban đầu (xác định nguyên giá) đã có những nét khác biệt so với các tài sản khác của DN. Do tài sản cố định hữu hình được phân thành nhiều loại khác nhau tùy vào yếu tố hình thành nên TSCĐHH. Điều này dẫn đến việc nguyên giá của TSCĐHH cũng sẽ được xác định theo nhiều cách khác nhau. Ví dụ như TSCĐHH mua sắm sẽ có cách thức xác định nguyên giá khác với TSCĐHH tự xây dựng hay tự chế,… Luan van 7 Bên cạnh đó như đã trình bày, TSCĐHH được hình thành từ một hoặc nhiều nguồn vốn khác nhau dựa vào mục đích sử dụng của TSCĐHH đó nên trong khâu hạch toán tăng, chúng ta còn có một bút toán đặc biệt đó là bút toán kết chuyển nguồn để ghi tăng nguồn vốn kinh doanh và ghi giảm một hoặc nhiều nguồn vốn khác.
Hai là, việc xác định giá trị hao mòn của TSCĐHH cũng ảnh hưởng đến công tác kế toán. Như đã nói, TSCĐHH có đặc điểm là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh nên giá trị của nó được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh trong kỳ theo các tiêu thức thích hợp. Do đó, việc xác định các tiêu thức phân bổ để xác định giá trị hao mòn của TSCĐHH sao cho phản ánh một cách hợp lý nhất tình hình tài sản của DN cũng là một vấn đề quan trọng. Có 3 phương pháp khấu hao là khấu hao theo đường thẳng (khấu hao đều theo thời gian sử dụng), khấu hao theo số dư giảm dần và khấu hao theo số lượng sản phẩm.
Tùy vào đặc điểm của TSCĐHH mà DN phải lựa chọn khấu hao theo một phương pháp nào đó. Ba là, theo dõi chi tiết TSCĐHH cũng là một công việc khá phức tạp. Như đã nói, TSCĐHH được phân thành nhiều loại nên việc theo dõi từng TSCĐHH riêng lẻ cũng như từng loại TSCĐHH làm công việc kế toán trở nên phức tạp hơn. Đầu tiên, ngay từ thời điểm tiếp nhận TSCĐHH, DN phải phân loại một cách chính xác TSCĐHH đó thuộc loại nào, ghi vào sổ, thẻ tài sản cố định một cách chính xác.
Hằng năm, khi lập báo cáo tài chính doanh nghiệp phải theo dõi chi tiết cho từng TSCĐHH cũng như từng loại ở 03 chỉ tiêu là nguyên giá, giá trị hao mòn và giá trị còn lại. Từ những ảnh hưởng của TSCĐHH đến công tác kế toán như trên thì kế toán TSCĐHH cần phải quán triệt những nguyên tắc sau đây: Thứ nhất; xác định đối tượng ghi TSCĐHH hợp lý. Đối tượng kế toán (ghi) TSCĐHH là từng TSCĐHH riêng biệt, có kết cấu độc lập và thực hiện Luan van 8 một chức năng nhất định hoặc có thể là một tổ hợp liên kết nhiều bộ phận cùng thực hiện một chức năng. Trên cơ sở đối tượng đã xác định, cần xây dựng số hiệu của từng đối tượng TSCĐHH nhằm thuận tiện và tránh nhầm lẫn trong hạch toán và quản lý TSCĐHH.
Thứ hai; phân loại TSCĐHH một cách khoa học. Do TSCĐHH trong DN có nhiều loại với nhiều hình thái biểu hiện, tính chất đầu tư, công dụng và tình hình sử dụng khác nhau nên để thuận lợi cho việc quản lý và hạch toán TSCĐHH cần sắp xếp TSCĐHH vào từng nhóm theo những đặc trưng nhất định như nhà cửa vật kiến trúc, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải thiết bị truyền dẫn,… Thứ ba; xác định giá trị ghi sổ TSCĐHH. Trong mọi trường hợp, tài sản cố định hữu hình phải được đánh giá theo nguyên giá và giá trị còn lại. Do vậy, việc ghi sổ phải bảo đảm phản ánh được tất cả 03 chỉ tiêu về giá trị của TSCĐHH là nguyên giá, giá trị hao mòn và giá trị còn lại.
Trong đó, nguyên giá TSCĐHH được đánh giá một cách khác nhau tùy theo từng loại TSCĐHH cụ thể. CƠ SỞ GIÁ ĐỂ ĐO LƯỜNG TÀI SẢN CỐ ĐỊNH HỮU HÌNH 1. Giá gốc hay giá lịch sử (Historical cost) Giá gốc (giá lịch sử) là giá thực tế phát sinh liên quan đến việc hình thành tài sản, nợ phải trả ở doanh nghiệp. Đối với TSCĐHH, đo lường theo giá gốc phản ánh số tiền hoặc tương đương tiền được chi ra để có được một TSCĐHH tại thời điểm mà TSCĐHH đó ở trạng thái sẵn sàng sử dụng.
Giá gốc được sử dụng đến trong các trường hợp tiếp nhận tài sản (mua sắm, đầu tư xây dựng,…), khi lập báo cáo tài chính (theo Kế toán Việt Nam). Vậy chung quy lại, theo tác giả thì giá gốc được sử dụng khi doanh nghiệp đang hoạt động bình thường (không bị giải thể, phá sản, sáp nhập,…) và các tài sản cũng đang được sử dụng đúng mục đích và doanh nghiệp không có yêu cầu thanh lý, nhượng bán chúng. Luan van 9 Giá gốc có ưu điểm là loại giá được sử dụng phổ biến trong đo lường tài sản và nợ phải trả vì tính khách quan và xác thực của nó giữa các bên có liên quan đến một nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Thông tin kế toán được phản ánh qua giá gốc đảm bảo được tính tin cậy do có những bằng chứng đáng tin cậy (thể hiện qua chứng từ kế toán), do vậy có ích đối với người sử dụng trong việc ra quyết định.
Bên cạnh đó, giá gốc cũng có một số hạn chế.