Chương 1: Lý thuyết hàng đợi. Luận văn tập trung trình bày về lý thuyết hàng đợi, các mô hình hàng đợi có thể sẽ liên quan đến bài toán hoạt động của một siêu thị. Chương 2: Công cụ mô phỏng GPSS Luận văn tập trung trình bày về các công cụ mô phỏng GPSS các cách tiếp cận mô phỏng. Quy trình mô phỏng bài toán thực tế bằng GPSS Chương 3: Ứng dụng lý thuyết hàng đợi và công cụ mô phỏng vào bài toán hàng đợi siêu thị.
Trình bày bài toán mô phỏng hoạt động của siêu thị cụ thể; bằng phương pháp phân tích sử dụng lý thuyết hàng đợi. Áp dụng công cụ mô phỏng GPSS World và áp dụng quy trình mô phỏng hệ thống hàng đợi để giải quyết bài toán. Từ kết quả thu được đưa ra so sánh và đánh giá hiệu quả của mô phỏng. Kết luận Tóm lược kết quả chính của luận văn, nêu lên các hạn chế của nghiên cứu từ đó định hướng phát triển trong thời gian tới.
LÝ THUYẾT HÀNG ĐỢI Chương này tập trung trình bày các khái niệm liên quan đến lý thuyết hàng đợi. Đây là những kiến thức tổng quan, cơ bản nhất để phân tích và giải bài toán hàng đợi.1 Các khái niệm cơ bản 1.1 Biến ngẫu nhiên Trong hệ thống hàng đợi dễ dàng nhìn thấy 2 quá trình ngẫu nhiên độc lập: quá trình khách hàng xuất hiện ở đầu vào hệ thống và quá trình phục vụ khách hàng tại đầu ra của hệ thống. Số lượng khách hàng tại một thời điểm được đặc trưng bởi một biến ngẫu nhiên rời rạc. Tốc độ đến tại một thời điểm cũng như thời gian phục vụ được đặc trưng bởi các biến ngẫu nhiên.
Biến ngẫu nhiên được ký hiệu bởi X, Y có giá trị kỳ vọng E(X). Phương sai: với độ lệch chuẩn. Hệ số biến thiên là đại lượng mô tả mức độ biến động tương đối của biến ngẫu nhiên. Tính hệ số biến thiên: 1.2 Phân phối sác xuất thường gặp Mục tiêu của việc phân tích hàng đợi bằng lý thuyết là xây dựng mô hình chuyển trạng thái để xác định phân phối dựa vào xác suất ở đầu vào và phân phối xác suất ở đầu ra của hệ thống.
Tốc độ đến và thời gian phục vụ được đặc trưng bởi một phân phối xác suất. Các phân phối thường gặp [2] hai đại lượng này được trình bày trong bảng 1. 1- Một số hàm phân phối thường gặp STT Viết tắt Tên Hàm phân phối Phân phối 1 M mũ Phân phối 2 Ek Erlang k jt f ( t ) q j (1 e ) Phân phối j 1 3 Hk siêu bội Trong đó: μj >0, qj>0, j∈{1.k}, Phân phối 5 G hình học Phân phối 6 Possion 1.1 Phân phối hình học (Geometric distribution) Là phân phối đặc trưng cho số các biến cố sảy ra trong một khoảng thời gian cho trước. Một biến ngẫu nhiên hình học [2 tr.18] với phân phối xác suất: Với phân phối này chúng ta có một số công thức sau 1.2 Phân phối Poisson (Poisson distribution) Là phân phối thường gặp nhất trong các mô hình hàng đợi phân phối Poisson [6 tr.6-7] được đặc trưng cho những quá trình đến và phục vụ hoàn toàn ngẫu nhiên, độc lập.
Một biến phân phối Poisson với tham số có phân phối , n=0, 1, 2,… Trong đó: - là xác suất để trong khoảng thời gian τ có n yêu cầu xuất hiện; - n là số yêu cầu xuất hiện trong khoảng thời gian quan sát τ; - là số yêu cầu trung bình xuất hiện trong từng khoảng thời gian quan sát τ. Phân phối Poisson ta có: Biến ngẫu nhiên tuân có phân phối Poisson khi dòng đến có đủ các đặc điểm của quá trình Poisson. Quá trình Poisson có 3 tính chất sau: Tính không hậu quả: Dòng yêu cầu có tính không hậu quả có nghĩa là: nếu xác suất xuất hiện một số yêu cầu nào đó trong một khoảng thời gian nhất định không phụ thuộc vào việc đã có bao nhiêu yêu cầu xuất hiện trước khoảng thời gian đó. Hay nói khác, số yêu cầu xuất hiện trước và sau thời điểm nào đó không chịu ảnh hưởng qua lại lẫn nhau.
Tính đơn nhất Dòng yêu cầu có tính chất đơn nhất có nghĩa là: nếu xét trong khoảng thời gian khá bé thì biến cố “có nhiều hơn một yêu cầu xuất hiện” hầu như không xảy ra. Về mặt thời gian, chúng ta có thể xem dòng yêu cầu có tính chất đơn nhất nếu thời điểm xuất hiện các yêu cầu không trùng nhau. Tính dừng (tính thuần nhất theo thời gian) Dòng yêu cầu có tính chất dừng có nghĩa là: nếu xác suất xuất hiện k yêu cầu trong khoảng thời gian τ chỉ phụ thuộc vào giá trị của τ và của k chứ không phụ thuộc vào việc khoảng thời gian τ này nằm ở vị trí nào trên dòng thời gian. Điều này có nghĩa là với những khoảng thời gian τ dài bằng nhau thì xác suất xuất hiện k yêu cầu như nhau.3 Phân phối mũ (Exponential Distributions) Mật độ của một phân phối mũ [2 tr.20]với tham số được cho bởi hàm , t>0.
Có hàm phân phối xác suất: Với hàm phân phối này ta có một số công thức tính kỳ vọng và phương sai như sau: 1.4 Phân phối Erlang (Erlang distribution) Một biến có một phân phối Erlang-k [9 tr.5] (k=1,2,…) với nếu X là tổng của E biến độc lập có phân phối mũ chung. Ký hiệu chung là hoặc ngắn gọn là. Hàm phân phối xác suất bằng: Tham số được gọi là tham số quy mô (scale parameter), là tham số hình dạng (shape parameter) Một sơ đồ trạng thái của được biểu diễn bởi Hình 1. 1- Sơ đồ chuyển trạng thái của phân phối Erlang-k với biến quy mô là Các đặc trưng phương sai, phương sai và hệ số bình phương bằng nhau đều bằng nhau 1.5 Phân phối siêu bội Một biến ngẫu nhiên là phân phối siêu bội [2 tr.24] nếu là xác suất , i=1,.,k một biến phân phối mũ với 1/.
Biến ngẫu nhiên này được ký hiệu là hoặc thu gọn là. Hàm mật độ cho bởi: Hệ số biến thiên của hàm này luôn lớn hơn 1 hoặc bằng 1 1.3 Khái niệm hàng đợi và lý thuyết hàng đợi Hàng đợi (hay dòng chờ) [11] là một dòng đợi dịch vụ. Yêu cầu được phục vụ từ khách hàng sinh ra theo thời gian thông qua 1 nguồn đầu vào. Khách hàng sẽ phải chờ trong hàng đợi đến lượt được phục vụ.
Khách rời khỏi hệ thống sau khi đã được phục vụ. Erlang, kỹ sư điện thoại Đan Mạch bắt đầu nghiên cứu sự tắc nghẽn và thời gian chờ trong những cuộc gọi điện thoại. Từ đó, lý thuyết hàng đợi đã phát triển và được sử dụng rộng rãi cho nhiều tình huống. Mô hình hàng đợi gồm những biểu thức và những mối liên hệ được dùng để xác định những chỉ tiêu phản ảnh đặc trưng của các hệ thống.
2- Thành phần cơ bản của hàng đợi Các thành phần cơ bản của hàng đợi [6 tr.6-7] bao gồm: Tiến trình đến Dòng yêu cầu đến hệ thống là dòng các đối tượng đi đến hệ thống và đòi hỏi được thoả mãn yêu cầu phục vụ. Ví dụ: Dòng khách tới trung tâm bưu điện, dòng các tàu biển đến cảng để bốc dỡ hàng hóa. Dòng các yêu cầu đến hệ thống hàng đợi được đặc trưng bởi tốc độ đến (arrival rate), ký hiệu là λ. Là một biến ngẫu nhiên được đặc trưng bởi phân phối xác suất của các lần khách hàng đến liên tiếp.
Dòng yêu cầu đến hệ thống là dòng biến cố ngẫu nhiên và tuân theo những phân phối xác suất nhất định, như đã nêu ở mục 1. Tiến trình phục vụ Bao gồm hàng đợi phục vụ và quá trình phục vụ. Hàng đợi phục vụ: là tập hợp các yêu cầu sắp xếp theo một trật tự để chờ được phục vụ theo một nguyên tắc phục vụ nhất định. Trong đó nguyên tắc phục vụ là cách thức nhận các yêu cầu vào các kênh phục vụ.
Nguyên tắc phục vụ cho biết trường hợp nào thì các yêu cầu được nhận vào phục vụ và cách thức phân bố các yêu cầu vào các kênh như thế nào. Đồng thời nguyên tắc phục vụ cũng cho biết trong trường hợp nào yêu cầu bị từ chối. Một số quy tắc xếp hàng là FCFS (Fist-come-fist-server), LCFS (Last-come-fist- server), SIRO (Service-in-random-order), dịch vụ ưu tiên. Tùy thuộc vào loại dịch vụ mà hệ thống phục vụ được thiết kế theo mô hình đơn hàng (có một hàng đợi), hay đa hàng (nhiều hàng đợi), một bước phục vụ hay nhiều bước phục vụ.
Thời gian phục vụ được đặc trưng bởi phân phối xác suất khoảng thời gian mà khách hàng sử dụng các dịch vụ. Quá trình phục vụ hay kênh phục vụ là những thiết bị kỹ thuật, con người hoặc tổ hợp các thiết bị kỹ thuật và con người mà hệ thống sử dụng để phục vụ các yêu cầu đến hệ thống. Một đặc trưng quan trọng nhất của các kênh phục vụ là thời gian phục vụ, đó là thời gian ít nhất mỗi kênh phải tiêu hao để phục vụ xong một yêu cầu. Tiến trình ra.
Là dòng các yêu cầu đi ra khỏi hệ thống bao gồm các yêu cầu đã được phục vụ và các yêu cầu bị từ chối. Ở đây chúng ta chỉ chú ý đến dòng yêu cầu đã được phục vụ; vậy có thể coi tiến trình ra là dòng các yêu cầu đã được phục vụ rời khỏi hệ thống, dòng ra được đặc trưng bởi tốc độ ra (departure rate), ký hiệu là. Các đặc điểm của hàng đợi a) Đặc điểm của tiến trình đến Kích thước khách hàng đến Là giới hạn hoặc không giới hạn. Ví dụ: không ước lượng được số xe đến bãi rửa xe trong thành phố lớn hoặc lượng sinh viên đăng ký môn học tại một trường đại học lớn, đó là những hàng đợi không xác định được kích thước giới hạn của tiến trình đến.
Hầu hết mô hình hàng đợi có kích thước đến là không giới hạn. Quy tắc của dòng đến Khách hàng đến với dịch vụ theo một lịch trình (VD: Cứ 15 phút có một bệnh nhân đến khám hoặc đúng 30 phút có một sinh viên đến đăng ký học) hoặc đến một cách ngẫu nhiên không xác định chính xác được thời gian khách hàng kế tiếp đến. Để tính toán số khách hàng trung bình đến dịch vụ trong một khoảng thời gian, hay trung bình số lần xảy ra thành công của một sự kiện trong một khoảng thời gian nhất định ta sử dụng phân phối Possion [6 tr.8] với giá trị trung bình này được ký hiện là. Những hàng đợi có khách hàng đến ngẫu nhiên, độc lập và không xác định trước thời gian đến.