Luận văn thạc sĩ về nghiên cứu thuật ngữ máy xây dựng tiếng Việt

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thuật ngữ máy xây dựng tiếng Việt cung cấp cái nhìn sâu sắc về ngôn ngữ chuyên ngành và ứng dụng thực tiễn.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

91
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu thuật ngữ máy xây dựng tiếng Việt

Nghiên cứu về thuật ngữ máy xây dựng tiếng Việt là một lĩnh vực quan trọng trong ngôn ngữ học, đặc biệt trong bối cảnh phát triển ngành xây dựng hiện đại. Việc hiểu rõ các thuật ngữ này không chỉ giúp nâng cao chất lượng công trình mà còn hỗ trợ cho việc giảng dạy và học tập trong các trường kỹ thuật. Hệ thống thuật ngữ này phản ánh sự phát triển của công nghệ và nhu cầu hội nhập quốc tế trong ngành xây dựng.

1.1. Tình hình nghiên cứu thuật ngữ máy xây dựng

Trước đây, nghiên cứu về thuật ngữ máy xây dựng chưa được chú trọng. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nhiều công trình đã được thực hiện nhằm làm rõ đặc điểm và vai trò của thuật ngữ trong ngành này. Các nghiên cứu này đã chỉ ra rằng việc chuẩn hóa thuật ngữ là cần thiết để đảm bảo sự chính xác và thống nhất trong giao tiếp chuyên môn.

1.2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu thuật ngữ

Nghiên cứu thuật ngữ máy xây dựng không chỉ giúp cải thiện khả năng giao tiếp trong ngành mà còn tạo điều kiện cho việc phát triển các sản phẩm và công nghệ mới. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu thuật ngữ máy xây dựng

Mặc dù có nhiều tiến bộ trong nghiên cứu thuật ngữ máy xây dựng, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải giải quyết. Việc thiếu tài liệu và sự đồng thuận trong định nghĩa thuật ngữ là một trong những vấn đề lớn nhất. Điều này dẫn đến sự khó khăn trong việc áp dụng và giảng dạy các thuật ngữ này trong thực tế.

2.1. Thiếu tài liệu nghiên cứu

Hiện tại, tài liệu về thuật ngữ máy xây dựng tiếng Việt còn hạn chế, đặc biệt là các từ điển chuyên ngành. Điều này gây khó khăn cho việc tra cứu và học tập, làm giảm hiệu quả trong việc áp dụng các thuật ngữ trong thực tế.

2.2. Sự không đồng nhất trong định nghĩa

Nhiều thuật ngữ trong ngành xây dựng chưa có định nghĩa thống nhất, dẫn đến sự nhầm lẫn trong việc sử dụng. Việc này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng công việc mà còn gây khó khăn trong việc đào tạo nhân lực cho ngành xây dựng.

III. Phương pháp nghiên cứu thuật ngữ máy xây dựng hiệu quả

Để nghiên cứu thuật ngữ máy xây dựng tiếng Việt một cách hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp khoa học phù hợp. Việc sử dụng phương pháp miêu tả, phân tích và thống kê sẽ giúp làm rõ các đặc điểm của thuật ngữ trong ngành này.

3.1. Phương pháp miêu tả

Phương pháp miêu tả giúp xác định cấu trúc và đặc điểm của từng thuật ngữ. Qua đó, có thể chỉ ra mối quan hệ giữa các thuật ngữ và các khái niệm mà chúng biểu thị.

3.2. Phương pháp phân tích thành tố

Phân tích thành tố cho phép hiểu rõ hơn về nguồn gốc và cách hình thành của các thuật ngữ. Điều này giúp xác định các yếu tố cấu tạo và từ loại của thuật ngữ, từ đó đề xuất các phương hướng chuẩn hóa.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu thuật ngữ máy xây dựng

Kết quả nghiên cứu về thuật ngữ máy xây dựng tiếng Việt có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Từ việc biên soạn từ điển chuyên ngành đến việc phát triển giáo trình giảng dạy, các kết quả này sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong ngành xây dựng.

4.1. Biên soạn từ điển thuật ngữ

Việc biên soạn từ điển chuyên ngành sẽ giúp cung cấp một nguồn tài liệu đáng tin cậy cho sinh viên và các chuyên gia trong ngành. Điều này không chỉ hỗ trợ cho việc học tập mà còn giúp nâng cao chất lượng công việc trong thực tế.

4.2. Phát triển giáo trình giảng dạy

Kết quả nghiên cứu có thể được tích hợp vào giáo trình giảng dạy tại các trường kỹ thuật, giúp sinh viên nắm vững các thuật ngữ chuyên ngành và áp dụng chúng trong thực tế.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu thuật ngữ máy xây dựng

Nghiên cứu về thuật ngữ máy xây dựng tiếng Việt là một lĩnh vực còn nhiều tiềm năng. Việc tiếp tục nghiên cứu và chuẩn hóa các thuật ngữ sẽ góp phần nâng cao chất lượng công việc trong ngành xây dựng và hỗ trợ cho sự phát triển bền vững của ngành này.

5.1. Tương lai của nghiên cứu thuật ngữ

Trong tương lai, cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa về thuật ngữ máy xây dựng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của ngành. Việc này không chỉ giúp cải thiện chất lượng công việc mà còn thúc đẩy sự phát triển của ngành xây dựng Việt Nam.

5.2. Đề xuất hướng nghiên cứu mới

Cần nghiên cứu sâu hơn về các thuật ngữ mới xuất hiện trong ngành xây dựng, đặc biệt là những thuật ngữ liên quan đến công nghệ mới và xu hướng phát triển bền vững. Điều này sẽ giúp cập nhật và làm phong phú thêm hệ thống thuật ngữ trong ngành.

16/07/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thuật ngữ máy xây dựng tiếng việt

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN Chương này, tập trung vào trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu một số vấn đề liên quan, bao gồm: tình hình nghiên cứu thuật ngữ nói chung, thuật ngữ máy xây dựng nói riêng; nêu một số vấn đề lí thuyết quan trọng về thuật ngữ và một số vấn đề liên quan đến thuật ngữ máy xây dựng để làm tiền đề lí luận cho việc nghiên cứu của luận văn. NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA THUẬT NGỮ Hiện nay, không chỉ trên thế giới mà còn ở Việt Nam, vấn đề thuật ngữ luôn được các nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa về thuật ngữ được tất cả mọi người đều thống nhất thừa nhận. Sở dĩ có nhiều định nghĩa thuật ngữ khác nhau là do cách nhìn của các nhà nghiên cứu có những sự khác nhau.

Có tác giả cho rằng thuật ngữ xác định khái niệm, nhưng có tác giả lại cho rằng thuật ngữ không chỉ xác định khái niệm và còn biểu hiện khái niệm. Lotte cho rằng, về bản chất thuật ngữ là những từ đặc biệt [57].Vinokur thì lại phủ nhận điều đó. Ông khẳng định rằng, thuật ngữ không phải là từ đặc biệt, mà chỉ là từ có chức năng đặc biệt, bất cứ từ nào cũng có cấu tạo để có vai trò là một thuật ngữ [103]. Akhmanova lại định nghĩa : “ Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ của ngôn ngữ chuyên môn ( ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ kỹ thuật, v.) được sáng tạo ra ( được tiếp nhận, được vay mượn, v.) để biểu hiện chính xác các khái niệm chuyên môn và biểu thị các đối tượng chuyên môn” [ dẫn theo 94, tr.

Gerd thì định nghĩa: “ Thuật ngữ là một đơn vị từ vựng – ngữ nghĩa có chức năng định nghĩa và được khu biệt một cách nghiêm ngặt bởi các đặc trưng như tính hệ thống, tính đơn nghĩa; ở thuật ngữ không có hiện tượng đồng nghĩa hay đồng âm trong phạm vi của một khoa học hoặc một lĩnh vực tri thức cụ thể ”[ dẫn theo 76, tr. Các nhà ngôn ngữ Việt Nam đồng tình với định nghĩa thuật ngữ gắn với khái niệm như: Nguyễn Văn Tu [97, tr. 114 ]; Lưu Vân Lăng; Nguyễn Như 6 Ý[52, tr. 44]; Đỗ Hữu Châu [8, tr.

241]; Hoàng Văn Hành [23, tr. 26]; Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Quang, Vương Toàn [68, tr. 64]; Nguyễn Thiện Giáp[17, tr. 270]… Theo các nhà nghiên cứu này, “Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ.

Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người. Ví dụ các thuật ngữ: đạo hàm, tích phân, vi phân… trong toán học; tư bản, tích lũy, giá trị thặng dư… trong kinh tế học; bộ tộc, bộ lạc, huyết thống… trong sử học; âm vị, âm tiết, hình vị… trong ngôn ngữ học…”[17, tr. Cụ thể hơn, thì “Thuật ngữ không chỉ biểu thị khái niệm khoa học mà còn chỉ tên một sự vật, một hiện tượng khoa học nhất định, thuật ngữ là những từ chuyên môn được sử dụng trong phạm vi một ngành khoa học, một nghề nghiệp hoặc một ngành kĩ thuật nào đấy… Đặc tính của những từ này là phải cố gắng chỉ có một nghĩa, biểu thị một khái niệm hay chỉ tên một sự vật, một hiện tượng khoa học, kĩ thuật nhất định” [8, tr. Bên cạnh đó, nhiều tác giả nổi tiếng trên thế giới như G.Zơvêginxep[dẫn theo 26, tr.12] thì định nghĩa thuật ngữ gắn với chức năng.

Tiêu biểu là G. Vinokur cho rằng: “Thuật ngữ - đó không phải là một từ đặc biệt mà chỉ là từ có chức năng đặc biệt”. “Chức năng đặc biệt mà từ với tư cách là thuật ngữ đảm nhiệm đó là chức năng gọi tên” [103]. Đa số các tác giả tán đồng quan điểm này.

Nikiforov còn nhấn mạnh rằng: “Chức năng định danh ở thuật ngữ được thừa nhận là chức năng cơ bản và duy nhất” [67]. Quan niệm của viện sĩ V.Vinôgrađốp về thuật ngữ vốn được giới thuật ngữ học Xô viết coi là một trong những tư tưởng khá cơ bản và tin cậy. Ông viết “Mọi người đều biết trước hết từ thực hiện chức năng định danh, nghĩa là hoặc nó là phương tiện biểu thị, lúc đó nó chỉ là một kí hiệu giản đơn, hoặc nó là phương tiện của định nghĩa logic, lúc đó nó là thuật ngữ khoa học” [dẫn theo 31, tr. Dựa vào quan điểm này, L.Kapatnadze đã phát triển tư tưởng về vai trò đặc biệt của thuật ngữ: “Thuật ngữ không gọi tên khái niệm như từ thông thường 7 mà là khái niệm được gán cho nó, dường như là gắn kèm theo nó cùng với định nghĩa”.

“Ý nghĩa của thuật ngữ … đó là định nghĩa khái niệm, là cái định nghĩa được gán cho thuật ngữ” [35].Zơvêginxep và một số người khác nêu bật chức năng biểu hiện của thuật ngữ với tư cách là đặc điểm nổi bật của nó [dẫn theo 26, tr. Trong công trình “Nghiên cứu, khảo sát thuật ngữ tiếng Việt phục vụ cho việc xây dựng Luật ngôn ngữ ở Việt Nam” [95], tác giả Nguyễn Đức Tồn cho rằng: khi định nghĩa thuật ngữ thì phải và chỉ cần chỉ ra được những đặc trưng bản chất nhất thuộc bản thể của nó, làm nó khác biệt với các từ ngữ không phải là thuật ngữ (như từ thông thường, từ nghề nghiệp, tiếng lóng…). Những phẩm chất thứ yếu không đủ để khu biệt thuật ngữ với các đơn vị phi thuật ngữ hoặc những phẩm chất không thuộc về bản thể của thuật ngữ mà do sự nhận thức chủ quan, do người sử dụng áp đặt cho thuật ngữ thì nhất định không được đưa vào nội dung định nghĩa của thuật ngữ. Và tác giả của công trình này đã đưa ra định nghĩa: Thuật ngữ là từ ngữ biểu hiện khái niệm hoặc biểu thị đối tượng trong phạm vi một lĩnh vực khoa học, công nghệ hoặc chuyên môn.

Định nghĩa trên đã chỉ ra những đặc trưng bản chất nhất của thuật ngữ: 1) Về hình thức: Thuật ngữ là từ hoặc ngữ cố định. Hình thức lí tưởng nhất của thuật ngữ là có dạng từ (từ đơn hoặc từ ghép chính phụ) bởi thuật ngữ sẽ rất ngắn gọn, cấu trúc chặt chẽ và cố định. 2) Về nội dung: Thuật ngữ biểu thị khái niệm khoa học/chuyên môn. Đó là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu khoa học hoặc hoạt động chuyên môn, phản ánh những đặc trưng bản chất và mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng vốn là ngoại diên của những khái niệm ấy.

Giữa lĩnh vực chuyên môn và lĩnh vực phi chuyên môn có sự khác nhau: trong lĩnh vực chuyên môn người ta sử dụng thuật ngữ, còn lĩnh vực phi chuyên môn sử dụng từ ngữ phi thuật ngữ. Hai lĩnh vực này còn có sự khác nhau cơ bản ở tính quốc tế và tính dân tộc. Khái niệm được sử dụng trong lĩnh vực chuyên môn dù có hình thức thuật ngữ biểu hiện có thể khác nhau nhưng phải có tính quốc tế nghĩa 8 là các nhà hoạt động trong cùng một lĩnh vực chuyên môn này ở các dân tộc khác nhau đều hiểu giống nhau. Còn ở lĩnh vực phi chuyên môn thì các khái niệm có thể được hiểu khác nhau tùy mỗi ngôn ngữ, mỗi dân tộc, thậm chí có những từ / khái niệm chỉ có trong ngôn ngữ/dân tộc này mà không có trong ngôn ngữ / dân tộc kia [95, tr.

Như vậy, có nhiều cách tiếp cận thuật ngữ, nhưng dù từ hướng tiếp cận nào các tác giả trên đều đề cập tới hai vấn đề: - Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ - Biểu thị khái niệm, thuộc tính, đối tượng, sự vật, hiện tượng… thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ hoặc chuyên môn. Đó cũng chính là cách hiểu của chúng tôi về khái niệm thuật ngữ và lấy đó làm cơ sở để nghiên cứu trong luận văn này. MỘT SỐ CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ THUẬT NGỮ 1. Vị trí thuật ngữ trong hệ thống ngôn ngữ 1.

Thuật ngữ - bộ phận lớn nhất của từ vựng ngôn ngữ và vốn từ văn hóa Thuật ngữ là những từ ngữ đặc biệt chủ yếu do con người tạo ra một cách có ý thức, là sản phẩm của lao động trí tuệ bởi vì thuật ngữ ra đời cùng với với sự lao động sáng tạo của đội ngũ trí thức. “Thuật ngữ không chỉ hiểu đơn giản là từ và ngữ chuyên môn dùng trong khoa học kĩ thuật, công nghệ, dịch vụ mà đó là hệ thống khái niệm, phạm trù khoa học, là tri thức khoa học công nghệ, là trí tuệ dân tộc và nhân loại được chung đúc qua hình thức ngôn ngữ” [82, tr. Cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ và đội ngũ trí thức, thuật ngữ ngày càng phát triển. Thuật ngữ hiện nay được nhìn nhận không phải chỉ là một lớp từ giống lớp từ địa phương, từ nghề nghiệp…như quan niệm trước kia, bởi vì so với các lớp từ này, thuật ngữ là bộ phận từ vựng rất lớn trong hệ thống ngôn ngữ.

Theo tổng kết của một số nhà nghiên cứu, hầu hết các từ ngữ mới xuất hiện trong từ điển đều là thuật ngữ. Chẳng hạn, theo thống kê của nhà ngôn ngữ học Tiệp Khắc Sokhora. có đến 90% từ mới thuộc hệ thống thuật ngữ khoa học và kĩ thuật. [Dẫn theo 35, tr.

Tương tự, Budagov R. (1976) nhận định “Số lượng thuật ngữ trong 9 mỗi ngành khoa học đang phát triển quả thật không phải từng ngày mà là từng giờ” [2, tr. Như vậy, khi khoa học càng phát triển thì thuật ngữ cũng càng được phát triển không ngừng, đồng thời khi hệ thống thuật ngữ càng phát triển và được hoàn thiện, chuẩn hóa đến lượt nó sẽ tác động và thúc đẩy sự phát triển của chính ngành khoa học đó. Thuật ngữ - đối tượng nghiên cứu của thuật ngữ học Thuật ngữ hiện nay rất phát triển và đã trở thành đối tượng nghiên cứu của thuật ngữ học.

Mặc dù hiện nay còn có những tranh luận, nhưng nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài khẳng định “Thuật ngữ học là chuyên ngành độc lập, ra đời và phát triển từ ngôn ngữ học trong thế kỷ XX, gồm 2 lĩnh vực chính: thuật ngữ học lí thuyết và thuật ngữ học ứng dụng. Trong đó, đối tượng của thuật ngữ học là thuật ngữ với các lớp, loại khác nhau và hệ thống thuật ngữ hiểu theo nghĩa rộng” [Dẫn theo 58, tr. Theo Leichik (1986), trong thực tế thuật ngữ có thể được hình thành theo tự phát, tự nhiên hoặc được tạo ra một cách có ý thức.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ