CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỐNG KÊ LAO ĐỘNG CÓ VIỆC LÀM 1. Các khái niệm cơ bản 1.Lực lượng lao động Trong HTCT quốc gia có đưa ra định nghĩa “LLLĐ (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế hiện tại) bao gồm những người từ 15 tuổi trở lên có việc làm (đang làm việc) và những người thất nghiệp trong thời kỳ tham chiếu (7 ngày trước thời điểm quan sát)”. Định nghĩa này hoàn toàn phù hợp với các quy định chuẩn của ILO. Lao động có việc làm Theo ILO, dân số có việc làm bao gồm tất cả những người trên một độ tuổi tối thiểu quy định cho thống kê dân số hoạt động kinh tế (nước ta quy định từ 15 tuổi trở lên), kể cả lao động gia đình, mà trong thời kỳ tham chiếu là 7 ngày trước ngày điều tra: a) làm một việc gì đó, để có thu nhập hoặc lợi nhuận, bằng tiền hay hiện vật; hoặc b) tạm thời nghỉ công việc mà họ đã làm nhưng vẫn có những dấu hiệu còn gắn bó với công việc, hoặc nghỉ hoạt động tự làm, như ở một trang trại, một doanh nghiệp hay cơ sở dịch vụ.
Trong các cuộc Điều tra lao động – việc làm năm 2007, 2009 và Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, GSO đã sử dụng định nghĩa, dân số có việc làm bao gồm những người mà, trong 7 ngày trước khi tiến hành điều tra, đã làm việc ít nhất 1 giờ để tạo thu nhập, kể cả làm cho gia đình không đòi hỏi tiền công, như: người làm công ăn lương, người làm kinh doanh hoặc lao động trong ruộng vườn, trang trại của họ. Những người lao động tình nguyện, làm giúp (thanh niên tình nguyện, làm giúp người khác…), làm từ thiện, nhân đạo… không được tính là người có việc làm. Thiếu việc và thất nghiệp Theo ILO, những người thiếu việc làm bao gồm tất cả những người từ 15 tuổi trở lên có việc làm trong thời kỳ tham chiếu mà: (i) muốn làm thêm giờ; (ii) có khả năng để làm thêm giờ; và (iii) có số giờ làm việc hiện tại thấp hơn so với số giờ làm việc đủ thời gian theo quy định. Đối với nước ta, những người thiếu việc làm bao gồm những người từ 15 tuổi trở lên làm việc dưới 35 giờ một tuần, mong muốn và sẵn sàng làm việc thêm giờ.
Theo ILO, người thất nghiệp là người trên một độ tuổi nhất định, trong khoảng thời gian quan sát, không có việc làm, sẵn sàng làm việc và đang tìm việc làm. Theo HTCT quốc gia, người thất nghiệp bao gồm những người từ 15 tuổi trở lên mà trong tuần tham chiếu, thoả mãn đồng thời ba điều kiện (i) không làm việc, (ii) sẵn sàng làm việc, và (iii) đang tìm việc làm, kể cả những người trước đó chưa bao giờ làm việc. Nguồn lao động Nguồn lao động được xác định theo sơ đồ sau. Dân số thường trú Dân số trong tuổi lao động Dân số ngoài tuổi lao động Mất sức lao động Có khả năng lao Đang làm việc Không làm việc động thường xuyên thường xuyên Nguồn lao động Có việc làm Không có việc làm v 1.
Hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh lao động có việc làm 1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh lực lượng lao động Quy mô lực lượng lao động Quy mô LLLĐ: là số người thuộc LLLĐ. Từ định nghĩa trên, quy mô LLLĐ được tính theo các công thức: LLLĐ = Tổng dân số từ 15 - Dân số 15 tuổi trở lên (1.1) tuổi trở lên không hoạt động kinh tế hoặc: LLLĐ = Dân số từ 15 tuổi trở - Dân số 15 tuổi trở lên (1.2) lên có việc làm thất nghiệp 1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh quy mô lao động có việc làm Quy mô lao động có việc làm: là số người trên 15 tuổi có việc làm theo định nghĩa trên.
Chú ý, quy mô lao động có việc làm khác với quy mô lực lượng lao động và nằm trong quy mô lực lượng lao động. Quy mô LLLĐ được tính theo các công thức: Lao động = LLLĐ từ 15 tuổi trở - Số người 15 tuổi trở lên (1.7) có việc làm lên thất nghiệp 1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh cơ cấu lao động có việc làm Cơ cấu lao động có việc làm theo giới tính Cơ cấu lao động có việc làm theo độ tuổi (nhóm tuổi) Cơ cấu lao động có việc làm theo khu vực thành thị (nông thôn) Cơ cấu lao động có việc làm theo nghề nghiệp Cơ cấu lao động có việc làm theo ngành kinh tế Cơ cấu lao động có việc làm theo loại hình kinh tế Cơ cấu lao động theo trình độ học vấn vi Cơ cấu lao động có việc làm theo vị thế việc làm 1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh chất lượng lao động có việc làm Số giờ làm việc bình quân một lao động trong tuần Tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo Thu nhập bình quân một lao động đang làm việc Năng suất lao động xã hội 1.
Nhóm chỉ tiêu phản ánh thất nghiệp và thiếu việc làm Số người thiếu việc làm: đây là chỉ tiêu tuyệt đối về thiếu việc làm. Chỉ tiêu này được thu thập và tổng hợp trực tiếp từ các cuộc điều tra thu thập thông tin do các cơ quan/tổ chức của nhà nước mà theo phân công của HTCT Quốc gia thì hiện do Tổng Cục Thống kê thu thập theo định kỳ (hàng quý, hàng năm, 5 năm và 10 năm). Tỷ lệ thiếu việc làm: đây là chỉ tiêu tương đối về mức độ thiếu việc làm. Có 2 định nghĩa về tỷ lệ thiếu việc làm.
Thứ nhất, tỷ lệ thiếu việc làm được đo bằng tỷ lệ phần trăm những người thiếu việc làm trong lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm. Thứ hai, tỷ lệ thiếu việc làm được đo bằng tỷ lệ phần trăm những người thiếu việc làm trong lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên. Số người thất nghiệp: đây là chỉ tiêu tuyệt đối. Chỉ tiêu này thường được thu thập và tổng hợp trực tiếp từ các cuộc điều tra thu thập thông tin do các cơ quan/tổ chức của nhà nước mà cụ thể hiện nay là GSO tiến hành theo định kỳ (hàng quý, hàng năm, 5 năm và 10 năm).
Tỷ lệ thất nghiệp: đây là chỉ tiêu tương đối, được tính bằng tỷ số giữa số người thất nghiệp và tổng lực lượng lao động. Đặc điểm vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích thực trạng lao động có việc làm 1.Phương pháp phân tổ Phân tổ thống kê là căn cứ vào một hay một số tiêu thức nào đó để sắp xếp các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu vào các tổ, nhóm có tính chất khác nhau. Chẳng hạn, khi nghiên cứu thực trạng việc làm tại Việt Nam, căn cứ vào tiêu thức “giới tính” có thể chia tổng số người có việc làm thành hai tổ: nam và nữ, căn cứ vào tiêu thức khu vực có thể chia thành hai tổ: thành thị và nông thôn. Phương pháp phân tích dãy số thời gian Trong luận văn sử dụng phương pháp dãy số thời gian để tính toán lượng tăng giảm tuyệt đối liên hoàn, lượng tăng giảm tuyệt đối bình quân, tốc độ phát triển liên hoàn, tốc độ phát triển bình quân của quy mô lao động có việc làm giai đoạn 2005- 2014.
Từ đó giúp nắm được tình hình biến động của các chỉ tiêu trên theo thời gian, tìm hiểu nguyên nhân của các biến động đột biến, đồng thời có những dự báo cho tương lai. Phương pháp chỉ số Trong luận văn có dùng phương pháp Hệ thống chỉ số. Hệ thống chỉ số là một dãy các chỉ số có liên hệ với nhau hợp thành một đẳng thức (phương trình). Cơ sở để hình thành hệ thống chỉ số là mối liên hệ thực tế của các chỉ tiêu, thường có quan hệ tích số.
Cấu thành của một hệ thống chỉ số thường bao gồm một chỉ số toàn bộ (chung) và các chỉ số nhân tố (bộ phận). viii CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU THỐNG KÊ LAO ĐỘNG CÓ VIỆC LÀM TỈNH BẮC NINH GIAI ĐOẠN 2005 – 2014 VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP 2. Tổng quan đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Bắc Ninh 2. Đặc điểm tự nhiên Bắc Ninh là một tỉnh mới tái lập năm 1997 từ tỉnh Hà Bắc cũ.
Nằm trong châu thổ sông Hồng, Bắc Ninh tiếp giáp với tỉnh Bắc Giang ở phía Bắc, tỉnh Hải Dương ở phía Đông, thành phố Hà Nội ở phía Nam và Tây. Diện tích tự nhiên của tỉnh là 803,87 km2 bằng 0,24% diện tích cả nước. Dân số tính đến năm 2014 theo số liệu Cục Thống kê Bắc Ninh là 1. Đặc điểm kinh tế - xã hội Tổng sản phẩm trong tỉnh tạo ra hàng năm tăng liên tục, tốc độ gia tăng trung bình trên 10%.
Cơ cấu kinh tế của tỉnh đã có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp. Về môi trường đầu tư, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2014 của Bắc Ninh là 60,92, đứng thứ 10 trong số 64 tỉnh thành trên toàn quốc. Đặc điểm nguồn thông tin thống kê lao động tỉnh Bắc Ninh Nguồn số liệu trong luận văn được thu thập từ Cục Thống kê Bắc Ninh, Niên giám Thống kê Bắc Ninh thông qua Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, các cuộc điều tra lao động việc làm hàng năm của tỉnh và việc đăng ký dân số của người dân từ cấp xã, phường. Phân tích thống kê lao động có việc làm tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005-2014 ix 2.
Phân tích biến động quy mô lao động có việc làm Kinh tế tỉnh Bắc Ninh đang chuyển dịch mạnh mẽ từ nông nghiệp sang công nghiệp dịch vụ. Do vậy, quy mô lao động có việc làm cũng biến động không nhỏ trong giai đoạn 10 năm từ 2005 đến 2014. Nhìn chung số lượng lao động có việc làm của Bắc Ninh tăng liên tục qua các năm với tốc độ khá nhanh, tốc độ tăng bình quân là 1,35%/năm, tốc độ phát triển bình quân là 101,35%/năm tương ứng với mức tăng trung bình là 8040 người/năm. Tuy nhiên, mức tăng và tốc độ tăng từng năm lại biến động khác nhau, đầu giai đoạn mức độ tăng khá nhanh sau đó giảm đi vào ổn định đến cuối giai đoạn tốc độ lại tăng mạnh trở lại.
Phân tích biến động cơ cấu lao động có việc làm 2. Cơ cấu lao động có việc làm theo giới tính Tình hình cơ cấu lao động có việc làm tỉnh Bắc Ninh theo giới khá ổn định trong suốt 10 năm qua. Số lượng nữ cao hơn nhưng mức độ chênh lệch không quá nhiều. Lao động nữ chiếm trung bình khoảng 48%, lao động nam là 52%.