Đặt vấn đề: Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực thường xuyên xảy ra quá trình bồi lắng, xói lở làm thay đổi dòng chảy, ảnh hưởng đến quá trình xâm thực mặn.Hằng năm, khu vực đồng bằng sông Cửu Long phải thường xuyên thực hiện việc nạo vét Kênh rạch, Sông ngòi để khai thông và điều tiết dòng chảy.Vật liệu trong quá trình nạo vét dòng chảy thường là các vật liệu bồi lấp, vật liệu trầm tích. Đồng bằng sông Cửu Long được bao phủ bởi lớp trầm tích trẻ khá dày, thành phần cấu tạo chủ yếu là đất sét yếu, cát chảy, bùn. Các nghiên cứu trước đây đã cho thấy qui luật phân bố trầm tích ở khu vực gần bờ sông, bờ biển là những thành tạo trầm tích vụn cơ học bở rời. Các vật liệu vụn rời lại được tác động của dòng sông, tái vận chuyển, lắng đọng tạo ra sự phân bố thành phần hạt từ thô đến mịn tùy theo cao độ của các khu vựa Sông ngòi, Một số nơi được phân bố trầm tích hiện đại hạt mịn như bùn, bùn cát.
Phân bố ven bờ là các trầm tích cát, cát bột, cát bùn, bùn và sét. [1-3] Bên cạnh đó, đồng bằng sông Cửu Long còn đón nhận lượng lớn phù sa theo các mùa nước lên, một phần phù sa sẽ theo dòng chảy ra biển, phần còn lại sẽ bồi lắng trong đồng, sông, đặc biệt là các khu vực cửa sông, các vùng ven biển. Do đó, việc nạo vét khai thông luồng lạch phải được thực hiện thường xuyên ở các khu vực này. Các vật liệu nạo vét có chứa thành phần cát, sỏi nhiều sẽ được tận dụng làm vật liệu san lấp và xây dựng.Phần lớn vật liệu nạo vét có thành phần sét và bùn sét lớn sẽ phải đem xử lý bằng biện pháp chôn lấp, gây ô nhiễm môi trường và chi phí xử lý.Công tác bảo đảm an toàn hàng hải, cần thiết phải nạo vét duy tu hàng năm đối với các tuyến luồng cảng sông, biển để phục hồi độ sâu, kích thước luồng, tuyến đường hàng hải, độ sâu các bến, cảng biển theo thiết kế do lượng sa bồi thường xuyên bồi lắng dưới lòng luồng, tuyến đường hàng hải.
Đối với các vật liệu nạo vét này, ngoài việc đổ thải vào các khu vực cần san lấp mặt bằng ven biển và các dự án lấn biển, lượng còn lại được đổ ra biển nên cần thiết phải thiết lập các khu vực đổ thải trên biển trước để đáp ứng nhu cầu nạo vét thực tế này đồng thời vẫn bảo đảm được mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội và bảo vệ môi 1 trường một cách bền vững. Trên cơ sở Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ Giao thông vận tải đã và đang triển khai xây dựng và phê duyệt quy hoạch chi tiết các nhóm cảng biển. Hiện nay quy định áp dụng cho hoạt động nạo vét, đổ thải vật liệu nạo vét của các tuyến luồng hàng hải áp dụng các quy định tại Quyết định số 73/2013/QĐ-TTg ngày 27/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc thí điểm thực hiện cơ chế nạo vét, duy tu các tuyến luồng hàng hải do Bộ Giao thông vận tải quản lý và Nghị định 18/2015/NĐ- CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường; Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn căn cứ Điều 10 về trách nhiệm tổ chức lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch quản lý chất thải rắn.1:Khối lượng nạo vét các luồng cảng hàng hải năm 2015 [5] STT Tên luồng Khối lượng nạo vét (m3) 1 Hải Phòng 1.000 11 Sài Gòn - Vũng Tàu 230.192 13 Định An – Cần Thơ 62.833 14 Vũng Tàu - Thị Vải - 15 Soài Rạp - Hiệp Phước 500.2:Bùn thải nạo vét và giải pháp xử lý Mục đính Quản lý vật liệu đắp, Địa điểm chính Công trình nạo vét Khối lượng Tái sử dụng đất sét của Nạo vét, Cắt cong nhà máy gạch Môm Rô Điều chỉnh Kênh dẫn nước Kè Sử dụng các vật liệu Bán kính cong mỏ hàn không phải đất sét cho 912 700 m3 Kè bảo vệ bờ công tác cải tạo đất nông nghiệp Điều chỉnh Nạo vét Sử dụng toàn bộ vật liệu Do Bui Bán kính cong Cắt cong cho công tác cải tạo đất 485 150 m3 Kè mỏ hàn nông nghiệp Tái sử dụng đất sét của Kênh nối Buồng âu nhà máy gạch DNC Liên kết 2 Nạo vét Sử dụng các vật liệu 1 300 000 sông Cắt cong không phải đất sét cho m3 công tác cải tạo đất nông nghiệp Sử dụng 25% vật liệu Luồng tàu chạy cho công tác cải tạo đất Cửa biển Liên kết biển Đê biển Nạo vét nông nghiệp 1 320 000 Lạch Giang và sông Sử dụng 75% vật liệu m3 cho công tác đắp hệ thống đê mới Xây dựng bến đỗ Bãi chứa mới Nhà kho mới Việt Trì Nâng cấp cảng Hệ thống thoát Port công nghiệp nước Đỗ đất thải 10 300 m3 Thiếp bị xếp, đỡ Hệ thống xả nước thải Ninh Phúc Nâng cấp Xây dựng bến đỗ Đỗ đất thải 16 100 m3 Port cảng công 3 Theo số liệu khảo sát Kênh rạch, hệ thống thủy lợi và kết quả tính toán đánh giá sự bồi lắng dòng chảy tại tỉnh Kiên Giang, chủ yếu phân bố bùn cát bồi lắng theo thời gian và không gian cho thấy bùn, cát không chỉ lắng đọng ở phần dung tích chết mà còn bồi dần lên cả phần dung tích hiệu dụng. Lượng bùn cát bồi lắng tại nhiều khu vực làm cản trở dòng chảy từ thượng lưu vào Kênh rạch.
Việc nạo vét là hết sức cần thiết và cấp bách bởi nhu cầu về nước sinh hoạt, nước cho phát triển công - nông nghiệp đòi hỏi ngày càng nhiều hơn về số lượng và khắt khe hơn về chất lượng; đảm bảo khơi thông luồng lạch, tăng dung tích trữ nước của Kênh rạch. Khi tiến hành nạo vét bùn, cát sẽ tận thu được phần nào về vật liệu xây dựng góp phần làm ổn định về giá vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh, đây cũng là một yếu tố nhằm thu hút các nhà đầu tư về đầu tư các dự án lớn cho tỉnh nhà; Ngăn chặn được tình trạng khai thác cát, sỏi trái phép gây ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nước và cảnh quan môi trường trong khu vực; Tăng nguồn thu cho ngân sách tỉnh.Hàng năm một khối lượng lớn đất thải nạo vét từ các công trình xây dựng cũng như nạo vét luồng lạch, cửa sông cửa biển không thể tái sử dụng làm vật liệu đắp mà thường được đổ ra khu vực lân cận, việc làm này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến điều kiện sinh thái và môi trường trong khu vực, phát sinh chi phí xây dựng các bãi chứa tạm. [4] Đặc điểm địa lý của tỉnh Kiên Giang là một tỉnh ven biển thuộc đồng bằng sông Cửu Long ở miền Nam Việt Nam, với phần lớn diện tích của tỉnh thuộc địa bàn tỉnh Rạch Giá trước đó. Đây là tỉnh có diện tích lớn nhất miền tây và lớn nhì ở miền nam (sau tỉnh Bình Phước).Tuy nhiên, cũng có thời kỳ toàn bộ diện tích tỉnh Kiên Giang ngày nay đều thuộc tỉnh Rạch Giá, bao gồm cả các vùng Hà Tiên và Phú Quốc.Trung tâm tỉnh là thành phố Rạch Giá, cách thành phố Hồ Chí Minh 250 km về phía Tây.
Kiên Giang tiếp giáp Campuchia ở phía Bắc với đường biên giới dài 54 km và vịnh Thái Lan ở phía Tây có đường bờ biển dài hơn 200 km. Ngoài ra Kiên Giang có hơn 100 đảo lớn nhỏ ngoài biển. Kiên Giang có tuyến đê biển dài 212km, dọc theo tuyến đê này là dải rừng phòng hộ ven biển với diện tích hiện có là 5. Tuyến đê bị chia cắt bởi 60 cửa sông, kênh nối ra biển Tây.
Cao trình đê từ 0,2 đến 2,5m, chiều rộng mặt đê từ 4 đến 6m, đến nay đã đầu tư xong 25 cống, còn lại 35 cửa sông/kênh thông ra biển cần tiếp tục đầu tư xây dựng cống để tiêu thoát lũ, ngăn mặn, giữ ngọt phục vụ sản xuất, dân sinh. Vùng biển hải đảo chủ yếu là đồi núi nhưng vẫn có đồng bằng nhỏ hẹp xen kẽ tạo nhiều cảnh quan thiên nhiên có giá trị du lịch. Hệ thống sông, ngòi, Kênhrạch của tỉnh rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, lưu thông hàng hóa và tiêu thoát nước lũ. 4 Ngoài các sông chính (sông Cái Lớn, sông Cái Bé, sông Giang Thành), Kiên Giang còn có mạng lưới Kênh rạch dày đặc, tổng chiều dài khoảng 2.
Đặc điểm địa hình này cùng với chế độ thuỷ triều biển Tây chi phối rất lớn khả năng tiêu úng về mùa mưa và bị ảnh hưởng lớn của mặn vào các tháng mùa khô. Hệ thống sông, Kênh rạch tỉnh Kiên Giang với tổng chiều dài hơn 2000 km, các sông tự nhiên gồm sông Giang Thành, sông Cái Lớn, sông Cái Bé,… là các sông lớn có cửa đổ ra biển Tây, có vai trò rất quan trọng trong việc tiêu thoát nước dư thừa, thoát lũ từ nội đồng ra biển Tây, ngoài ra còn có hệ thống kênh đào chằng chịt như ở vùng Tứ giác Long Xuyên có kênh Vĩnh Tế, Tám Ngàn, Tri Tôn, Mỹ Thái, Ba Thê, Kiên Hải, Rạch Giá-Long Xuyên, Cái Sắn,… các đoạn kênh này đều có hướng chảy Đông Bắc- Tây Nam, bắt nguồn từ sông Hậu. Kênh đào vùng Tây sông Hậu gồm các tuyến kênh KH1, kênh xáng Trâm Bầu, kênh Thốt Nốt, kênh KH6, KH7, kênh Ô Môn. Vùng phía Tây Nam của tỉnh có hệ thống kênh Cán Gáo, Trèm Trẹm, kênh Chắc Băng, kênh làng Thứ Bảy, bắt nguồn từ sông Hậu, kết thúc tại sông Cái Lớn - Cái Bé.
Các kênh đào có vai trò hết sức quan trọng trong việc cấp nước tưới tiêu, giao thông cho khu vực. Kênh Rạch 5 Luồng Lạch, Sông Hình 1.1:Hiện trạng sông ngòi, Kênh Rạch tại tỉnh Kiên Giang Nạo Vét Kênh Rạch 6 Nạo Vét Luồng Lạch, Sông Hình 1.2:Công tác nạo vét tại tỉnh Kiên Giang Với đặc điểm sông ngòi và Kênh rạch như vậy, vấn đề cấp thiết là việc nạo vét và đảm bảo an toàn vận chuyển đường sông, mở rộng và bảo vệ Kênh rạch là vấn đề quan tâm của Tỉnh Kiên Giang. Hoạt động nạo vét chủ yếu là thông luồng, mở rộng Kênh rạch theo công nghệ cũ, chất thải được vận chuyển về các bãi tập kết hay trên đất mặt, làm tiêu tốn chi phí vận chuyển, chi phí xử lý và tài nguyên vật liệu này.