Chương 1 TONG QUAN 1. Tổng quan về Tro bay Bê tông là một trong các vật liệu được sử dụng rộng rãi nhất trong các công trình xây dựng vả công trình giao thông hạ tầng. Trong đó, xi măng đóng vai trò chất kết dính trong bê tông hiện nay. Hiện nay, tong công suất các nhà máy xi măng đang hoạt động đạt trên 70 triệu tan.
Tổng sản lượng xi măng tiêu thụ năm 2013 tại Việt Nam khoảng 61 triệu tan đạt 107,5% so với kế hoạch năm và tăng 13,9% so với năm 2012; trong đó tiêu thụ nội địa khoảng 47 triệu tan, tăng 1,5 triệu tấn (tương đương 3,4%) so với năm 2012; xuất khẩu khoảng 14 triệu tấn, tăng gần 6 triệu tấn so với năm 2012 (trong đó clinker khoảng 10,3 triệu tan và xi măng khoảng 3,7 triệu tan). Tuy nhiên, Công nghiệp sản xuất xi măng lại là một trong những ngành tiêu thụ rất lớn nguồn tài nguyên khoáng sản (đá vôi, đất sét) và năng lượng (than, dau, điện) cũng như thải ra lượng khí COa rất lớn vào khí quyền. Số liệu điều tra cho thấy, lượng khí thải CO2 từ công nghiệp sản xuất xi măng xấp xi 1,35 tân/năm chiếm khoảng 7% lượng khí thải CO: trên toàn thế giới (Malhotra 2002) [2]. Theo thống kê trung bình dé sản xuất ra 1 tan xi măng đòi h i 4G] nhiên liệu và s thải ra 1 tan CO2 vào khí quyền góp phan gây nên hiệu ứng nhà kính làm cho Trái đất nóng dân lên.
Ngoài ra, lượng tro bay ở nước ta khá nhiều; theo thống kê cho thấy, công suất phát điện của các nhà máy điện đốt than trong nước trên 5.000MW chạy băng than antraxit trong nước, với lượng tiêu thụ hang năm vào khoảng 16 triệu tan than. Lượng tro xi thải ra là 5,7 triệu tan. Từ năm 2013, riêng lượng tro xi thải hang năm tại 5 nhà máy nhiệt điện đốt than của Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) khi phát đủ công suất ước tính khoảng 2,8 triệu tan/nam (trong đó khoảng 1,7 triệu tan là tro đáy). Dự báo, đến năm 2030, khi tổng công suất nhiệt điện đốt than của cả nước tăng lên khoảng 77.000MW, kéo theo tăng lượng than tiêu thụ là 176 triệu tấn thì lượng tro xỉ thải s đạt 35 triệu tắn/năm.
Khói, bụi, tro thải ra từ các nhà máy này s làm ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức kh e con người, chính vì vậy cần phải có các biện pháp thu hồi hoặc tái sử dụng loại chất thải độc hại này. Hiện nay, ở trong nước, đã có một số nhà máy thu hồi chế biến tro bay đã được xây dựng vận hành ở gần một số nhà máy nhiệt điện. Điển hình như tại Nhà máy Sản xuất tro bay Pha Lại với 8 dây chuyên tuyến tro bay theo công nghệ tuyến nỗi với công suất 40. Nha máy Chế biến tro bay Cao Cường có công suất 80.000 tan sản phẩm/năm (sử dụng nguồn tro xỉ của Nhà máy Điện Phả Lại).
Xưởng tuyến tro bay của Ban Quan lý công trình Thủy điện Sơn La có công suất 10. Xưởng tuyên tro bay của Công ty Phụ gia bê tông Phả Lại có công suất 5.000 tan/thang (sử dụng nguồn tro xi của Nhà máy TRỊNH NGỌC DUYNGỌC 12194008 Trang 1 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. TS Trân Văn Miền Điện Pha Lại II). Xưởng tuyến tro bay của Công ty CP Nhiệt điện Ninh Bình có công suất 50.
Tuy nhiên, lượng tro bay được sử dụng như 1a phụ gia trong xi măng, bê tông, gach không nung và chiếm ty lệ không lón. Tnhh nh sản xu tv s d ng tro bay [2] % Tài nguyên và sử dụng than của Việt Nam Việt Nam là nước nghèo tài nguyên than cả về trữ lượng và chủng loại. Theo tài liệu địa chất, tài nguyên than của Việt Nam chỉ có 34 790 058.103 tấn trong đó trữ lượng xác minh có 6 140 683. Tình hình va dự báo khai thác và tiêu thụ than cua các ngành kinh tế được nêu trong Bang 1.
Dự báo nhu câu than cua nên kinh tế quốc dân TT Hô tiêu th Nhu câu, 1000 t n/năm " 2006 | 2007 | 2008 | 2011 | 2015 | 2020 2025 A Tong nhu cau 38125 | 45481 | 35631 | 40432 | 61779 | 123899 | 179026 I Nội dia 16755 | 22030 | 17731 | 27432 | 56779 | 118899 | 175026 Nhiệt điện 5421 | 5158 | 6006 | 11500 | 35800 | 89700 | 137700 Xi mang 1542 | 2005 | 4045 | 6100 | 8100 | 10300 | 11400 SX phân đạm, hóa chat | 394 466 459 969 | 2312 | 3053 4282 Luyén kim: 703 1199 | 2390 4861 - Trong Vinacomin 270 388 611 962 - Ngoai Vinacomin 433 811 1779 3899 Công nghiệp giây 167 159 146 180 427 752 1326 Các hộ khác 9230 | 14242 | 7075 | 7980 | 8941 | 12704 | 15457 H Xuất khẩu 21460 | 23451 | 17901 | 13000 | 5000 | 5000 4000 B | Sản lượng than NK 50600 | 64745 | 74600 | 82120 4 Nguồn nguyên liệu tro xi nhiệt điện Hiện tại, phần lớn các nhà máy nhiệt điện đốt than chủ yếu tập trung ở phía Bắc, do gân nguôn than. Tổng công suất các nhà máy nhiệt điện đang vận hành tính ở thời điểm 2010 là 4+ 250 MW. Giai đoạn 2010+2020 s tiếp tục xây dựng các nhà máy nhiệt điện lớn như Mông Dương (2 000 MW), Nghi Sơn (3 000 MW), Vũng Áng (2 000 MW), Trà Vinh (3 800 MW), Sóc Trăng (4 400 MW), Kiên Giang (1 200 MW). Theo quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét đến 2030, trong quyết định số 1028/QD -TT¢g ký TRỊNH NGỌC DUYNGỌC 12194008 Trang 2 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.
TS Trân Văn Miền ngày 21/7/2011, tổng công suất các nhà máy nhiệt điện tính theo phương án phụ tải cơ sở, vào năm 2020 s là 36 000 MW và năm 2030 là khoảng 75 000 MW. Nguồn cung cấp than nhiên liệu trong nước cho các nhà máy điện thường là loại than chất lượng thấp, có độ tro lớn hơn 31+32%, thậm chí đến 43+45%. Do đó, các nhà máy nhiệt điện thải ra lượng tro xỉ khá lớn, có thể từ 20-30% lượng than sử dụng. Với suất tiêu hao than trung bình khoảng 500 g/kWh, tong lượng than sử dung cho nhiệt điện và lượng tro xi tạo thành ghi trong Bang 1.
Tro xi tu các nhà may nhiệt điện trong giai đoạn 2010 - 2030 ` Công suât Tiêu thụ than Luong tro xi SII Năm MW Triệu tắn/năm Triệu tắn/năm | 2010 4.240 21,72 6,51 + 7,60 Các nha máy nhiệt điện phải thu gom triệt dé toàn bộ lượng tro xỉ nguyên khai va lưu giữ trong các bãi chứa, tránh phát tán và gây ô nhiễm môi trường. 4 Chất lượng của tro xỉ nguyên khai Trước năm 2010, các nhà máy điện thường sử dụng công nghệ lò đốt than phun truyền thống. Than cám nguyên liệu được nghiền mịn -200 mesh trên 90%, Hỗn hợp bột than cùng gió nóng được phun vào buông đốt của lò hơi, hiệu suất cháy thường < 70%. Sau năm 2010, các nhà máy điện thường sử dụng công nghệ đốt than trong lò tầng sôi.
Than nguyên khai được đập đến 5+8 mm rồi cấp vào lò đốt, hiệu suất cháy của buông đốt cao hơn 90%. Trong quá trình đốt cháy chất hữu cơ, khoảng 20% chất vô cơ không cháy bị dính vón thành các hat lớn và rơi xuống đáy lò gọi là xi (hoặc tro đáy lò) Còn đến 80% chất vô cơ không cháy, bay theo khói lò và được thu hồi bằng nhiều phương pháp thu bụi (xiclon, lọc túi, lọc tĩnh điện, .) gọi là tro (tro bay). Thời gian nhiên liệu lưu trong buồng đốt không lâu nên dù sử dung công nghệ đốt than nào, lò than phun hay lò tầng sôi, trong tro xỉ vẫn còn lẫn những hạt than chưa kịp cháy hoặc chưa cháy hết. Do đó lượng mất khi nung (MKN) lẫn trong tro xỉ còn khá cao, thường là 20+30% (Phả Lại, Uông Bi,.
Thành phần hoá học của tro xỉ nguyên khai phụ thuộc chủ yếu vào chủng loại than đã sử dụng ở nhà máy nhiệt điện. Hiện tại, các nhà máy điện sử dụng than đá hoặc than nâu. Sự khác nhau này ghi trong Bảng 3. Các tinh chất này định hướng việc chế biến và sử dụng tro xi nguyên khai.
TRỊNH NGỌC DUYNGỌC 12194008 Trang 3 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. TS Trân Văn Miền Bang 1. Khác biệt về thành phân hóa học của Tro xỉ khi đốt than Chỉ tiêu Than đã Than nâu Tổng oxit (SiO›, AlaOa, FeaOa), % 75 +78 50 + 60 Ham luong SO3, % 0,15 8 +10 Vôi (CaO), % 08 Đến 15 Từ các số liệu trên có thể nhận thấy: + Khi sử dụng nguồn than đá (Quảng Ninh), thành phan tro xỉ chứa lượng lớn silic và alumin cùng tỷ lệ rat nh vôi và SOs, gọi là tro xi silic-alumin. Đây chính là chất vô co hoạt tính tương tự như pozzolan tự nhiên.
Nếu được sơ chế (tách riêng phần hữu cơ trong tro), có thể sử dụng làm phụ gia cho xi măng. Nếu được chế biến sâu (tách triệt để phần hữu cơ trong tro), có thé làm phụ gia cho bê tông. + Khi sử dụng nguén than nâu (Thái Nguyên, Lạng Sơn.), hàm lượng silic và alumin thấp hơn nhiều nhưng tỷ lệ vôi và SO3 lại cao hơn nhiều, gọi là tro xỉ sunfat-vôi. Do hàm lượng vôi khá cao nên bản thân các loại tro này chính là chất liên kết răn trong nước.
Vì thé có thé sử dụng trực tiếp loại tro xỉ này dé gia có mặt đường đá của hệ thống đường bộ giao thong vận tai. + Sử dụng tro xi sau khi tái chế - Sve dung tro tuyển làm phụ gia bê tông Tro bay nhiệt điện dùng làm phụ gia bê tông khối lớn cho các công trình đập thuỷ điện áp dụng công nghệ đồ bê tông đầm lăn (RCC). Tổng số các dư án thuỷ điện dự kiến đưa vào vận hành ở quy mô công suất vừa (trên 30 MW) va lớn là khoảng 70 dự án với tong công suất 12. Trong đó số dự án dự kiến áp dụng công nghệ RCC là 10 dự án với tổng khối lượng bê tông đắp đập là 12,6 triệu m3 và yêu cầu phụ gia tro tuyên khoảng từ 1,7 + 2,6 triệu m3.
Một số dự án lớn có nhu câu sử dụng tro tuyển làm phụ gia bê tông cho công nghệ RCC ghi ở Bang 1. TRINH NGỌC DUYNGỌC 12194008 Trang 4 Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS. TS Trân Văn Miền Bang 1.