Chương 1: Giới thiệu. - Chương 2: Tổng quan và cơ sở khoa học. - Chương 3: Phương pháp xác định độ dính bám. - Chương 4: Đánh giá khả năng dính bám.
- Chương 5: Kết luận, kiến nghị.5 Phương pháp nghiên cứu Luận văn được thực hiện chủ yếu bằng hai phương pháp sau: - Phương pháp lý thuyết đưa ra các phương pháp đánh giá tính dính bám giữa nhựa đường với đá. - Phương pháp thực nghiệm: + Thí nghiệm trong phòng tính dính bám của nhựa đường khi không có pha phụ gia và khi có pha phụ gia chống bong tróc với các loại đá dăm theo các phương pháp TCVN 7504:2005, thí nghiệm va đập EN 12272-3:2003 và thí nghiệm quét bề mặt ASTM D7000. + Đánh giá độ dính bám theo kết quả thí nghiệm.6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài Đề tài “Nghiên cứu khả năng dính bám của đá dăm khu vực phía Nam với nhựa đường sử dụng phụ gia chống bong tróc cho mặt đường láng nhựa” đánh giá độ dính bám của cốt liệu với nhựa đường trong mặt đường láng nhựa, tính hiệu quả của phụ gia chống bong tróc, góp phần nâng cao chất lượng, giảm hư hỏng, tăng thời gian sử dụng và giảm chi phí bảo dưỡng trong quá trình khai thác mặt đường láng nhựa. TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC 2.1 Tổng quan mặt đường láng nhựa 2.1 Khái niệm Mặt đường láng nhựa là mặt đường được thi công bằng cách tưới phun một lớp nhựa trên bề mặt rồi rải một lớp vật liệu đá và lu lèn thành một lớp mỏng gọi là láng nhựa một lớp.
Lặp lại quá trình trên hai hoặc ba lần thì được mặt đường láng nhựa hai lớp hay ba lớp. [1] Lớp láng mặt bằng nhựa và đá được dùng cho loại đường làm mới hoặc cũ. Lớp láng mặt có tác dụng làm giảm bớt độ bào mòn của mặt đường, nâng cao độ nhám, giữ mặt đường không để nước thấm xuống và nâng cao điều kiện vệ sinh.1: Thi công láng nhựa đường hành lang ven biển phía Nam, Cà Mau.2 Phân loại mặt đường Mặt đường láng nhựa được phân loại tùy thuộc vào trình tự xây dựng, chức năng và kích thước của cốt liệu. Theo các tiêu chí đó, mặt đường láng nhựa được phân -5- thành các loại như Hình 2.
[3] (a) Láng nhựa một lớp (b) Láng nhựa hai lớp (c) Láng nhựa đặc biệt (d) Láng nhựa chèn vữa xi măng (Cape seal) (e) Láng nhựa nghịch -6- (f) Láng nhựa đá kép (sandwich seal) (g) Láng nhựa củng cố bề mặt Hình 2.2: Các loại mặt đường láng nhựa trên thế giới [3]. Theo tiêu chuẩn Việt Nam [1] tùy theo mục đích sử dụng, láng nhựa nóng mặt đường được thi công theo kiểu láng nhựa một, hai hay ba lớp. Trong đó tổng chiều dày lớp láng nhựa không vượt quá 4cm.3: Láng nhựa 1 lớp: 1-nhựa, 2 - đá [2].4: Láng nhựa 2 lớp: 1- nhựa lớp 1, 2 – đá lớp 1, 3- nhựa lớp 2, 4- đá lớp 2 [2].1: Trường hợp sử dụng các kiểu láng nhựa nóng [1] Kiểu láng Trường hợp sử dụng nhựa 1. Láng nhựa - Khi lớp láng nhựa cũ bị bào mòn nhiều hoặc hư hỏng một lớp - Khi mặt đường nhựa cũ các loại bị bào mòn, trơn trượt nhưng lưu lượng xe không lớn.
Láng nhựa hai - Khi cần tăng thêm độ nhám, phục hồi độ bằng phẳng cho các lớp loại mặt đường khác nhau; - Khi cần bảo vệ và nâng cao chất lượng khai thác của mặt đường đá dăm, cấp phối đá dăm có hoặc không gia cố với xi măng hoặc với các chất liên kết vô cơ khác. Láng nhựa ba - Khi cần bảo vệ và nâng cao chất lượng khai thác của mặt lớp đường cấp phối có lưu lượng xe lớn hơn 80 xe/ngày đêm (đã quy đổi ra xe có trục 10 T) mà chưa có điều kiện để làm lớp mặt đường nhựa (thấm nhập nhựa, bê tông nhựa.3 Các phương pháp thiết kế mặt đường láng nhựa Thiết kế láng nhựa đã có lịch sử dựa trên kinh nghiệm trong quá khứ hoặc khái niệm kỹ thuật nhất định. Do sự thay đổi liên tục của các đặc tính vật liệu, thiết bị xây dựng, khí hậu và quan trọng nhất là sự thay đổi của điều kiện bề mặt hiện có ở các khu vực khác nhau, các nhà thầu thường thiết kế láng nhựa dựa trên kinh nghiệm trong lĩnh vực này.1 Phương pháp Hanson Nỗ lực đầu tiên để phát triển một quy trình thiết kế cho các đường láng nhựa được thực hiện bởi FM Hanson (1935). Ông đã nêu rằng các lỗ rỗng giữa các cốt liệu sau khi trải đều trên mặt đường, tình trạng lăn bánh và tình trạng giao thông lần lượt -8- trở thành gần 50%, 30% và 20%.
Ông cũng nêu rằng sau khi lưu thông, do hình dạng cốt liệu, cốt liệu có xu hướng nằm ở phía phẳng nhất của chúng và do đó, kích thước tối thiểu trung bình gần bằng với độ dày trung bình của cốt liệu sau khi xây dựng. Hanson (1935) tập trung vào tỷ lệ phần trăm lỗ rỗng trong phương pháp thiết kế của mình. Ông không bao gồm tiêu chí độ sâu lún; tuy nhiên, ông chỉ ra rằng khu vực lỗ rỗng giữa các cốt liệu phải được lấp đầy bằng 60% đến 75% chất kết dính còn lại, tương ứng với độ sâu lún 60% đến 75%.2 Phương pháp Kearby Kearby (1953) là kỹ sư đầu tiên phát triển phương pháp thiết kế đường láng nhựa liên quan đến việc xác định tỷ lệ ứng dụng vật liệu. Ông đã phát triển một chuyên khảo, sử dụng kích thước trung bình của cốt liệu, phần trăm độ sâu lún và phần trăm lỗ rỗng giữa các cốt liệu làm đầu vào để có được tỷ lệ xi măng nhựa đường.
Một trong những nhược điểm của phương pháp thiết kế Kearby là phần trăm lỗ rỗng và phần trăm độ sâu lún bị giới hạn; và phạm vi kích thước tổng hợp cũng khác nhau giữa 1/8’’ và 1’’. Một nhược điểm khác theo Kearby (1953) là ảnh hưởng giao thông và tính bền cốt liệu không được đưa vào chuyên khảo.3 Phương pháp McLeod Sau công trình của Hanson (1935) về đường láng nhựa, N. McLeod đã tạo ra một quy trình thiết kế mới cho láng nhựa dựa trên nghiên cứu của Hanson. Mục tiêu của McLeod là tìm ra tỷ lệ ứng dụng cốt liệu và chất kết dính nên được áp dụng tại công trình (McLeod, 1969).
Kích thước cốt liệu, hình dạng và trọng lực riêng đóng một vai trò quan trọng trong việc tính toán tỷ lệ ứng dụng cốt liệu. Tuy nhiên, đối với tỷ lệ chất kết dính áp dụng, có các loại tham số khác nhau cần được xem xét, bao gồm cấp phối và hình dạng cốt liệu, tình trạng giao thông, phần trăm còn lại của chất kết dính nhựa đường, tình trạng chất kết dính rò rỉ bề mặt đường hiện tại và độ hấp thụ chất kết dính của cốt liệu. McLeod đã sử dụng lý thuyết của Hanson và chấp nhận rằng các lỗ rỗng giữa các hạt trong điều kiện lỏng lẻo là khoảng 50%, sau đó sau khi lu lèn và lưu thông, nó -9- trở thành gần 30% và 20%, tương ứng. Các lỗ rỗng giữa các cốt liệu sau một lưu lượng lưu thông nhất định là 20%, điều đó có nghĩa là các cốt liệu bao phủ chiếm 80% áp dụng láng nhựa.
Độ sâu lún không phải là đầu vào trực tiếp cho cả cốt liệu và chất kết dính tính toán tỷ lệ áp dụng. Tuy nhiên, nó được gián tiếp đưa vào hiệu chỉnh lưu lượng trong quá trình tính toán tỷ lệ áp dụng chất kết dính. Nói cách khác, hệ số lưu lượng giao thông, phụ thuộc vào lưu lượng giao thông dự đoán, được điều chỉnh sao cho phần trăm độ sâu lún sau khi lưu thông đưa ra là 70%.4 Phương pháp Kearby cải tiến Nỗ lực đầu tiên để sửa đổi Phương pháp Kearby là nghiên cứu Epps et al. Họ đã cố gắng thay đổi chuyên khảo thiết kế Kearby để các cốt liệu tổng hợp có độ xốp cao có thể được sử dụng trong thiết kế.
Sau đó, trong một hoạt động nghiên cứu khác, Epps et al. (1981) đã cố gắng điều chỉnh phương pháp thiết kế Kearby sao cho thiết kế phù hợp với các thực hiện tại hiện trường. Holmgreen et al. (1985) đã nghiên cứu hiệu suất của các đoạn láng nhựa được thiết kế theo phương pháp Kearby bằng cách sử dụng dữ liệu được thu thập từ hai nghiên cứu trước đó và họ thấy rằng tỷ lệ áp dụng nhựa đường tính toán là không đủ để giữ cốt liệu.
Tỷ lệ áp dụng cốt liệu cho phương pháp Kearby đã sửa đổi được tính bằng cách sử dụng phép đo của phương pháp thử nghiệm trong phòng thí nghiệm mới, “Board Test”, được sử dụng để tìm số lượng cốt liệu ở vị trí đá dày trên một sân vuông. Thử nghiệm này tìm thấy số lượng cốt liệu tính bằng lb/yd2 bằng cách chia trọng lượng cốt liệu cho khu vực cốt liệu áp dụng. Tỷ lệ nhựa đường đã được sửa đổi bằng cách thêm giao thông và tình trạng mặt đường hiện có. Sửa đổi khác là thay đổi đường cong trong mối quan hệ giữa độ sâu trung bình và tỷ lệ phần trăm lún.
Phần trăm độ sâu lún có thể đạt được bằng cách sử dụng độ dày trung bình; nói cách khác, chiều cao trung bình cốt liệu. Đồng thời, phần trăm độ sâu nhúng có thể được chọn thủ công mà không cần đề xuất phương pháp theo độ sâu trung bình. Trong thiết kế, đề xuất rằng độ sâu lún 30 ± 10% và 70 ± 10% phải đạt được ngay sau khi -10- xây dựng và sau hai năm sử dụng tương ứng.5 Phương pháp Road Note 39 Quy trình thiết kế Road Note 39 được phát triển bởi Phòng thí nghiệm nghiên cứu giao thông của Anh. Quy trình thiết kế này được phát triển bằng cách thiết kế các loại hệ thống khác nhau dựa trên các thông số khác nhau mô phỏng các điều kiện và giao thông khác nhau trên mặt đường.
Các bước thiết kế bao gồm lựa chọn loại đầm (như láng lựa 1 lớp, láng nhựa 2 lớp, v.), lựa chọn chất kết dính và loại cốt liệu, xác định tỉ lệ chất kết dính và cốt liệu. Mức lưu lượng, độ cứng mặt đường hiện tại và kích thước của cốt liệu là đầu vào chính để xác định tỷ lệ áp dụng chất kết dính. Loại cốt liệu và hình dạng, điều kiện bề mặt hiện có, khí hậu, hình học của mặt đường và tốc độ giao thông là các đầu vào thứ cấp được sử dụng để xác định tỷ lệ áp dụng chất kết dính. Mặt khác, tỷ lệ cốt liệu áp dụng, được xác định bởi BS EN 12272-1, đưa hình dạng cốt liệu, kích thước và tỉ trọng tương đối vào số liệu.