Tổng quan nghiên cứu

Theo số liệu thống kê ngành năng lượng, Việt Nam hiện có 21 nhà máy nhiệt điện than đang vận hành, phát sinh khoảng 15,8 triệu tấn tro xỉ mỗi năm và ước tính sẽ tích lũy lên tới 422 triệu tấn vào năm 2030 nếu không có giải pháp xử lý triệt để. Cùng với đó, theo Quyết định số 318/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngành giao thông đường bộ đang duy trì tốc độ tăng trưởng vận tải hàng hóa 7,8%/năm, kéo theo nhu cầu khổng lồ về vật liệu đá dăm và nhựa đường cho công tác xây dựng hạ tầng. Vấn đề cấp bách đặt ra là nguồn tài nguyên khoáng sản tự nhiên ngày càng cạn kiệt, trong khi các bãi chứa tro xỉ thải chiếm dụng diện tích đất rất lớn và gây áp lực ô nhiễm môi trường nặng nề.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kỹ thuật Xây dựng Công trình Giao thông của tác giả Lê Thị Thu Thủy, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Mạnh Tuấn tại Trường Đại học Bách Khoa - ĐHQG TP.HCM, đã tập trung giải quyết bài toán trên qua đề tài nghiên cứu đánh giá chất lượng cơ bản của bê tông nhựa sử dụng xỉ than trong phòng thí nghiệm. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá tính năng cơ lý, khả năng kháng hằn lún, độ bền mỏi và mô đun đàn hồi của hỗn hợp bê tông nhựa chặt 12,5 mm khi thay thế cốt liệu mịn bằng xỉ than công nghiệp ở 4 tỷ lệ: 15%, 20%, 25% và 30% theo khối lượng.

Phạm vi thực nghiệm được thực hiện trong giai đoạn từ tháng 8/2019 đến tháng 12/2019 tại TP. Hồ Chí Minh, sử dụng nguồn xỉ than lò hơi thu gom từ Khu công nghiệp Phước Đông, tỉnh Tây Ninh kết hợp nhựa đường 60/70 Petrolimex và đá granit Đồng Nai. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn khi hiện thực hóa định hướng tại Quyết định số 452/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh tái chế tro xỉ làm vật liệu xây dựng, giúp hạ giá thành sản xuất hỗn hợp từ 5% đến 12% và mở ra giải pháp xanh, bền vững cho kết cấu áo đường mềm tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết cấp phối hạt liên tục theo nguyên lý đường cong thành phần hạt quy định tại TCVN 8819:2011 kết hợp phương pháp thiết kế thể tích Marshall theo tiêu chuẩn TCVN 8820:2011. Mô hình nghiên cứu phân tích cơ chế tương tác bề mặt giữa màng bitum dầu mỏ mác 60/70 với cốt liệu xỉ đáy lò có cấu trúc xốp và độ góc cạnh cao.

Các khái niệm then chốt làm cơ sở đánh giá bao gồm:

  • Độ ổn định Marshall: Phản ánh khả năng chịu tải trọng phá hoại động của hỗn hợp ở nhiệt độ tiêu chuẩn 60°C.
  • Độ rỗng dư thể tích: Đại lượng kiểm soát độ chặt, yêu cầu nằm trong khoảng từ 3% đến 6% đối với lớp mặt đường chặt BTNC 12,5.
  • Độ rỗng cốt liệu khoáng VMA và độ rỗng lấp đầy nhựa VFA: Đảm bảo không gian chứa màng nhựa bao bọc và liên kết các hạt khoáng.
  • Cường độ chịu kéo gián tiếp ITS và độ mài mòn Cantabro: Phản ánh khả năng kháng nứt, chống bong bật và độ dính bám trong môi trường chịu ứng suất lặp.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thực nghiệm sơ cấp thu thập trực tiếp tại Phòng thí nghiệm Cầu đường Trường Đại học Bách Khoa TP.HCM và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM trong khoảng thời gian 5 tháng (từ tháng 8/2019 đến tháng 12/2019).

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 5 tổ mẫu chính: 1 tổ mẫu đối chứng sử dụng 100% cốt liệu đá dăm granit tự nhiên và 4 tổ mẫu bê tông nhựa xỉ than thay thế lần lượt 15%, 20%, 25%, 30% khối lượng cốt liệu mịn lọt qua sàng 4,75 mm. Phương pháp chọn mẫu là lấy mẫu phân tầng ngẫu nhiên có kiểm soát thành phần hạt, bảo đảm đường cong cấp phối tổng hợp luôn nằm trong dải cận trên và cận dưới theo TCVN 8819:2011. Mỗi cấp phối được khảo sát với 5 mức hàm lượng nhựa khác nhau (mỗi mức chênh lệch 0,5% khối lượng hỗn hợp) để xác định chính xác hàm lượng nhựa tối ưu quanh mức 5,7%.

Lý do lựa chọn hệ thống phương pháp này là nhằm phản ánh toàn diện các chỉ tiêu cơ lý từ khâu đầm nén tiêu chuẩn 75 cú đập/mặt, đo đạc mô đun đàn hồi uốn tĩnh, ép chẻ kéo gián tiếp ở 25°C, cho đến các thí nghiệm nâng cao như vệt hằn bánh xe sau 8.000 chu kỳ tải và kiểm tra độ bền mỏi dưới ứng suất uốn lặp, mô phỏng sát thực tế làm việc của mặt đường.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về độ ổn định Marshall, hỗn hợp bê tông nhựa xỉ than đạt giá trị cao nhất tại tỷ lệ thay thế 20% xỉ than, với lực phá hoại ghi nhận vượt trên 16,0 kN, tăng khoảng 18% so với mẫu đối chứng truyền thống (đạt khoảng 13,5 kN). Khi nâng tỷ lệ xỉ than lên 25% và 30%, độ ổn định bắt đầu có xu hướng giảm nhẹ nhưng vẫn duy trì trên 14,0 kN, vượt xa ngưỡng yêu cầu tối thiểu là 8,0 kN của tiêu chuẩn thiết kế.

Thứ hai, đặc tính thể tích và dung trọng của hỗn hợp có sự biến đổi rõ rệt. Hạt xỉ đáy lò có dung trọng khô dao động từ 1.210 kg/m³ đến 1.260 kg/m³, nhẹ hơn từ 10% đến 25% so với cốt liệu đá dăm thông thường (khối lượng riêng đạt 2,70 g/cm³). Do cấu trúc lỗ rỗng bên trong hạt xỉ hấp phụ nhựa, hàm lượng nhựa tối ưu của hỗn hợp chứa xỉ than tăng thêm từ 0,5% đến 0,8%, đạt mức 5,7% - 6,1% so với mức 5,2% của cấp phối đá tự nhiên.

Thứ ba, khả năng chống biến dạng vĩnh cửu và hằn lún vệt bánh xe của mẫu chứa 20% xỉ than cho kết quả vượt trội. Độ sâu lún sau 8.000 chu kỳ thử nghiệm ở nhiệt độ cao dao động quanh mức 0,55 cm, giảm khoảng 12% độ sâu lún so với mẫu bê tông nhựa thông thường, chứng minh khả năng chịu tải trọng nặng rất tốt.

Thứ tư, chỉ số tổn thất khối lượng theo thí nghiệm mài mòn Cantabro chỉ nằm trong khoảng 16% đến 18%, thấp hơn nhiều so với giới hạn tối đa cho phép là 25%. Cường độ kéo gián tiếp ITS và độ dính bám của đá với bitum đạt cấp 5, khẳng định tính toàn vẹn kết cấu không bị suy giảm khi sử dụng xỉ than.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi giúp cải thiện độ ổn định và khả năng kháng lún của hỗn hợp là do độ góc cạnh của cốt liệu xỉ than đạt tới 45,89%, cao hơn đáng kể so với cát tự nhiên. Bề mặt xù xì và thô ráp của các hạt xỉ lò hơi tạo nên lực ma sát trong lớn và sự khóa ngàm cơ học chặt chẽ giữa các hạt cốt liệu thô.

Dữ liệu thực nghiệm có thể được trình bày và mô tả trực quan thông qua biểu đồ quan hệ giữa hàm lượng nhựa và các chỉ tiêu thể tích (độ rỗng dư, độ rỗng cốt liệu VMA, độ ổn định Marshall) cũng như bảng tổng hợp độ sâu lún theo số chu kỳ tác dụng bánh xe. Các biểu đồ này cho thấy rõ điểm uốn tối ưu của các chỉ tiêu cơ lý hội tụ tại mức thay thế 20% xỉ than.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế của Đại học Wyoming (Hoa Kỳ) và các công bố tại Hàn Quốc, kết quả của luận văn hoàn toàn tương đồng khi chứng minh tỷ lệ xỉ than phối trộn dưới 25% mang lại hiệu năng cơ học tốt nhất. Việc bổ sung xỉ than vượt quá 30% sẽ dẫn đến hiện tượng hút nhựa quá mức, làm tăng độ rỗng dư thể tích vượt dải 6% và khiến hỗn hợp có nguy cơ bị giòn, nứt mỏi sớm dưới tác dụng của thời tiết và tải trọng trục xe.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, ban hành tiêu chuẩn và hướng dẫn kỹ thuật thiết kế hỗn hợp bê tông nhựa sử dụng xỉ than đáy lò và xỉ lò hơi công nghiệp cho lớp mặt đường ô tô trước quý IV/2026, do Bộ Giao thông Vận tải chủ trì phối hợp cùng Bộ Xây dựng, nhằm hợp thức hóa tỷ lệ thay thế cốt liệu mịn từ 15% đến 20% trong các dự án giao thông.

Thứ hai, thiết lập quy trình kiểm soát chất lượng và tiền xử lý tro xỉ tại nguồn phát thải, đảm bảo xỉ than trước khi nhập trạm trộn phải được sấy khô để duy trì độ ẩm dưới 1,0% và giới hạn hàm lượng lọt sàng 0,075 mm không quá 10%, do các doanh nghiệp quản lý nhà máy nhiệt điện than và trạm sản xuất vật liệu hoàn thiện từ quý I/2027.

Thứ ba, triển khai xây dựng từ 3 đến 5 km đường thử nghiệm thực tế sử dụng bê tông nhựa xỉ than trên các tuyến đường cấp III đồng bằng và đường giao thông nông thôn trong giai đoạn 2027 - 2028, do các Ban Quản lý Dự án Giao thông cấp tỉnh chủ trì thực hiện nhằm quan trắc độ nhám bề mặt và mô đun đàn hồi thực tế sau 24 tháng khai thác.

Thứ tư, điều chỉnh quy trình công nghệ định lượng và sấy trộn nhiệt tại các trạm trộn bê tông nhựa nóng nhằm cắt giảm từ 8% đến 15% chi phí mua cốt liệu đá mịn tự nhiên, do các nhà thầu thi công xây lắp hạ tầng giao thông áp dụng trực tiếp từ năm 2027.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm một là các nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Kỹ thuật Xây dựng Công trình Giao thông hoặc Công nghệ Vật liệu Xây dựng. Luận văn cung cấp phương pháp luận thực nghiệm chuẩn tắc về thiết kế cấp phối Marshall, cơ chế biến dạng nhiệt và kỹ thuật đo độ bền mỏi của vật liệu tái chế.

Nhóm hai là các kỹ sư tư vấn thiết kế và chuyên gia công nghệ vật liệu tại các viện quy hoạch, công ty thiết kế đường bộ. Họ có thể sử dụng các số liệu thực chứng về mô đun đàn hồi, cường độ ép chẻ và chỉ số kháng lún để áp dụng vào tính toán kết cấu áo đường mềm tối ưu.

Nhóm ba là các doanh nghiệp sản xuất bê tông nhựa nóng và nhà thầu thi công hạ tầng giao thông. Luận văn đem lại bài toán phân tích kinh tế - kỹ thuật chi tiết, giúp doanh nghiệp nắm vững kỹ thuật bù nhựa bitum 60/70 khi phối trộn xỉ than nhằm hạ giá thành sản phẩm và nâng cao năng lực cạnh tranh khi đấu thầu.

Nhóm bốn là các nhà quản lý môi trường và cơ quan hoạch định chính sách thuộc Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Tài nguyên và Môi trường. Tài liệu là căn cứ khoa học vững chắc phục vụ việc xây dựng cơ chế khuyến khích tiêu thụ tro xỉ công nghiệp theo mô hình kinh tế tuần hoàn.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ xỉ than thay thế cốt liệu mịn tối ưu trong bê tông nhựa là bao nhiêu? Nghiên cứu khẳng định tỷ lệ thay thế tối ưu là 20% khối lượng cốt liệu mịn. Ở tỷ lệ này, độ ổn định Marshall đạt giá trị cao nhất trên 16,0 kN (tăng 18% so với bê tông nhựa thường), độ sâu hằn lún vệt bánh xe thấp nhất (khoảng 0,55 cm sau 8.000 vòng) và các chỉ tiêu cơ lý đều đạt chuẩn.

Việc sử dụng xỉ than có làm tăng lượng nhựa đường yêu cầu trong hỗn hợp không? Có, hàm lượng nhựa tối ưu tăng thêm khoảng 0,5% đến 0,8%, đạt mức 5,7% so với mức 5,2% của bê tông nhựa thông thường. Nguyên nhân là do cấu trúc hạt xỉ than có độ xốp và diện tích bề mặt riêng lớn, dẫn đến việc hấp phụ một lượng nhựa nhất định để bọc kín hạt cốt liệu.

Bê tông nhựa sử dụng xỉ than có đảm bảo độ nhám và khả năng chống trượt mặt đường không? Hoàn toàn đảm bảo. Nhờ độ góc cạnh của hạt xỉ than đạt 45,89% kết hợp độ mài mòn Los Angeles của cốt liệu ở mức 14,64%, thí nghiệm rắc cát đo độ nhám vĩ mô trên bề mặt mẫu cho thấy chỉ số bám dính đạt yêu cầu kỹ thuật cho các lớp mặt đường cấp cao theo TCVN 8819:2011.

Xỉ than thu gom từ nhà máy có cần xử lý phức tạp trước khi đưa vào sản xuất không? Quy trình xử lý hoàn toàn đơn giản và khả thi ở quy mô công nghiệp. Xỉ lò hơi sau khi thu gom chỉ cần sấy khô loại bỏ độ ẩm về dưới mức 1,0%, sau đó đưa qua sàng rung để loại trừ tạp chất thô và phân loại kích cỡ hạt dưới 4,75 mm trước khi nạp vào trạm trộn.

Sử dụng bê tông nhựa xỉ than đem lại hiệu quả kinh tế như thế nào? Giải pháp này giúp giảm từ 5% đến 12% chi phí mua vật liệu khoáng tự nhiên nhờ tận dụng nguồn xỉ than phế thải có giá thành thấp. Đồng thời, việc tái chế xỉ than giúp các nhà máy nhiệt điện tiết kiệm hàng tỷ đồng chi phí thuê bãi chứa và giảm thiểu thuế phí xử lý môi trường.

Kết luận

Luận văn đã thực hiện thành công các mục tiêu nghiên cứu với các đóng góp khoa học chính sau:

  • Khẳng định tính khả thi kỹ thuật vượt trội của việc sử dụng xỉ than lò hơi thay thế cốt liệu mịn trong hỗn hợp bê tông nhựa chặt 12,5 mm.
  • Xác định tỷ lệ phối trộn tối ưu ở mức 20% xỉ than với hàm lượng nhựa bitum 5,7%, giúp tăng độ ổn định Marshall thêm 18% và nâng cao khả năng kháng hằn lún vệt bánh xe.
  • Cung cấp trọn bộ dữ liệu thực nghiệm về mô đun đàn hồi, độ mài mòn Cantabro dưới 18% và độ bền mỏi dưới tác dụng của ứng suất uốn lặp.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc phục vụ quá trình hoàn thiện các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về tái sử dụng chất thải công nghiệp trong ngành giao thông.
  • Giải quyết hiệu quả bài toán kép về giảm áp lực khai thác tài nguyên mỏ đá tự nhiên và xử lý triệt để hàng triệu tấn tro xỉ nhiệt điện gây ô nhiễm môi trường.

Về định hướng tiếp theo, các cơ quan nghiên cứu cần tiếp tục theo dõi biến thiên chất lượng trên các đoạn tuyến thử nghiệm hiện trường trong giai đoạn 2026 - 2028 dưới tác động thực tế của thời tiết và lưu lượng xe. Các kỹ sư và nhà thầu hãy chủ động nghiên cứu, áp dụng công nghệ bê tông nhựa xỉ than để tạo ra những công trình giao thông xanh và tối ưu chi phí đầu tư.