Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Những năm gần đây, do quá trình đô thị hóa nên diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, cùng với đó là sự biến đổi không theo quy luật của khí hậu làm sản xuất nông nghiệp gặp rất nhiều khó khăn. Trong sản xuất nông nghiệp, ngô là một trong những cây trồng có tiềm năng năng suất cao mà không một cây ngũ cốc nào có thể so sánh kịp. Do đó, phát triển sản xuất ngô là một trong các giải pháp được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Ngoài việc cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác cho phù hợp cần thay đổi hướng chọn tạo giống. Trong giai đoạn hiện nay, chọn giống ngô lai có khả năng chống chịu tốt, năng suất cao, ổn định có khả năng ứng phó với điều kiện ngoại cảnh bất thuận tốt, là mục tiêu của các nhà chọn tạo giống. Để tạo ra giống ngô lai tốt, có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu với sâu bệnh và những điều kiện bất thuận, thích nghi rộng là việc rất khó khăn, tốn kém. Công việc tạo giống phải qua các giai đoạn: rút dòng, chọn lọc dòng, làm thuần dòng từ các nguồn nguyên liệu.
Thường thường thời gian để tạo dòng thuần cũng mất 4 - 5 năm (nếu mỗi năm làm 2 vụ). Đồng thời phải tiến hành nghiên cứu khả năng kết hợp của các dòng để tìm kiếm các tổ hợp lai ưu tú, thử nghiệm các tổ hợp lai trên các vùng sinh thái, xây dựng quy trình công nghệ sản xuất hạt giống cho từng giống khi đã được công nhận đưa vào sản xuất. Đánh giá các tổ hợp hợp lai là giai đoạn quan trọng nhất của chọn tạo giống. Áp lực chọn lọc qua các vụ, qua các chu kỳ thường làm hẹp nền di truyền dẫn đến cây trồng dễ bị ảnh hưởng bởi bất thuận sinh học và phi sinh 5 học (Deepmala Sehgal and elal, 2016) [28].
Do đó để chọn được các tổ hợp lai có độ đồng đều, tính ổn định phải tiến hành nghiên cứu lặp lại nhiều vụ để loại bỏ các tổ hợp lai có ưu thế lai thấp trước khi đưa ra sản xuất. Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới 1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Ngô là cây có tính di truyền rộng và thích ứng nhiều vùng sinh thái khác nhau nên được trồng ở nhiều nước trên thế giới. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới năm 2006 - 2016 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2006 148,4 47,71 707,93 2007 158,7 49,98 793,06 2008 163,1 50,83 829,24 2009 158,8 51,64 820,07 2010 164,0 51,90 851,35 2011 171,2 51,75 886,01 2012 178,8 48,89 874,25 2013 185,9 54,61 1015,40 2014 184,7 56,23 1.038,33 2015 182,4 55,38 1010,61 2016 188,0 56,40 1060,11 Nguồn: FAO, 2018 [35] Số liệu thống kê của FAO cho thấy: Trong vòng 10 năm qua, sản xuất ngô đã có sự thay đổi khá lớn.
Diện tích tăng từ 148,4 triệu ha lên đến 188,0 triệu ha tăng 26,7%; năng suất tăng từ 47,71 tạ/ha lên tới 56,4 tạ/ha tăng 18,2%, sản lượng tăng từ 707,93 triệu tấn lên đến 1060,11 triệu tấn tăng 49,7%. Nhìn chung, diện tích trồng ngô trên thế giới không tăng mạnh do diện tích đất canh tác có giới hạn, tuy nhiên sản lượng ngô lại có xu hướng tăng là do năng 6 suất ngô ngày càng được cải thiện là nhờ ứng dụng những thành tựu mới trong chọn tạo giống đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác. Dự báo, năm 2050, diện tích trồng ngô có thể giảm xuống chỉ còn đạt 156 triệu ha, nhưng sản lượng ngô sẽ đạt 1.343 triệu tấn do năng suất có thể tăng lên đạt 86 tạ/ha (Deepak K. Ray and elal, 2013)[27].
Hiện nay, cây ngô đã được trồng rộng rãi ở nhiều vùng, nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên do sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, khí hậu và tập quán canh tác nên sản xuất ngô có sự khác biệt rất lớn giữa các Châu lục. Tình hình sản xuất ngô của các châu lục trên thế giới năm 2016 Diện tích Năng suất Sản lượng Châu lục (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Châu Á 63,45 51,08 324,09 Châu Âu 17,75 66,16 117,41 Châu Mỹ 70,07 78,12 547,42 Châu Phi 36,61 19,27 70,56 Châu Đại Dương 0,08 81,74 0,63 Nguồn: FAO,2018[35] Châu Mỹ - quê hương của của cây ngô là châu lục có diện tích trồng ngô lớn nhất với diện tích 70,07 triệu ha chiếm 37,3% tổng diện tích trồng ngô trên thế giới (năm 2016). Đây cũng là châu lục có sản lượng cao nhất trên thế giới: Năm 2016 năng suất đạt 78,12 tạ/ha cao gấp 1,39 lần so với năng suất trung bình của thế giới, sản lượng đạt 547,42 triệu tấn chiếm 51,64% sản lượng ngô toàn thế giới.
Châu Đại dương có năng suất ngô đạt cao nhất (81,74 tạ/ha), nhưng diện tích trồng ngô không đáng kể chỉ là 0,08 triệu ha. Đứng thứ 2 về diện tích trồng ngô là Châu Á với 63,45 triệu ha. Năng suất đạt 51,08 tạ/ha, sản lượng 324,09 triệu tấn (2016). 7 Châu Âu mặc dù diện tích trồng ngô là thấp chỉ đạt 17,75 triệu ha nhưng năng suất ngô đạt được khá cao (66,16 tạ/ha) cao hơn năng suất trung bình của thế giới 1,17 lần, sản lượng đạt 117,41 triệu tấn chiếm 11,08% sản lượng ngô thế giới.
Châu Phi là châu lục có năng suất ngô thấp chỉ đạt 19,27 tạ/ha mặc dù châu Phi có diện tích trồng ngô lớn thứ 3 sau châu Mỹ và châu Á, nhưng sản lượng thu được chỉ đạt 70,56 triệu tấn chiếm 6,66% sản lượng ngô toàn thế giới (năm 2016). Tình hình sản xuất ngô của một số nước năm 2016 Diện tích Năng suất Sản lượng Nước (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Mỹ 35,1 109,6 384,8 Trung Quốc 39,0 59,5 231,8 Brazil 15,0 42,9 64,1 Mexico 7,6 37,2 28,3 Argentina 5,3 74,4 39,8 Nguồn: FAO, năm 2018 [35] Mỹ luôn là cường quốc số một về ngô, chiếm vị trí thứ hai về diện tích và đứng đầu về sản lượng ngô, đồng thời cũng là một trong những nước có năng suất ngô cao nhất. Mỹ là nước sử dụng giống ngô lai vào sản xuất đại trà đầu tiên trên thế giới, nhờ đó mà năng suất ngô bình đạt 109,6 tạ/ha và sản lượng đạt 384,8 triệu tấn. Hiện nay 100% diện tích trồng ngô ở Mỹ được sử dụng giống ngô lai trong đó 90% là giống lai đơn.
Có được điều đó là do Mỹ áp dụng công nghệ sinh học để cải thiện năng suất cũng như tăng khả năng chống chịu của các giống ngô. Ở Mỹ các giống ngô được chọn tạo bằng ứng dụng công nghệ sinh học chiếm khoảng 52% (Minh Tang Chang và Peter (2005) [31]. Theo Family Corn Farmers (2013) [36] năng suất ngô của Mỹ có thể tăng thêm 40% trước năm 2020 và đạt khoảng 190 tạ/ha vào năm 2030. 8 Trung Quốc là nước đứng đầu về diện tích trồng ngô và có sản lượng đứng thứ hai trên thế giới.
Năm 2016, diện tích ngô của Trung Quốc đạt 39,0 triệu ha, lớn hơn 3,9 triệu ha so với Mỹ, sản lượng đạt 231,8 triệu tấn. Đứng thứ 3 về diện tích trồng ngô trên thế giới là Brazil, năm 2016 đạt 15,0 triệu ha với năng suất 42,9 tạ/ha và sản lượng 64,1 triệu tấn. Mexico là nơi phát sinh đa dạng di truyền của cây ngô nhưng năng suất ngô còn thấp chỉ đạt 37,2 tạ/ha. Sản lượng ngô của Mexico năm 2016 đạt 28,3 triệu tấn.
Có thể nói, thành tựu có ý nghĩa quyết định đến sự gia tăng sản lượng ngô trên thế giới là việc lai tạo và sử dụng giống ngô lai. Ngô lai là một trong những thành tựu tạo giống cây trồng lớn nhất của loài người, đóng góp vào việc giải quyết nạn đói ở các nước đang phát triển vùng châu Á, châu Phi và châu Mỹ La Tinh. Tình hình tiêu thụ ngô trên thế giới Tổng lượng nhu cầu ngô trên thế giới có xu hướng tăng từ niên vụ 2006/2007 đến 2014/2015, mức tăng bình quân là 3,6%/năm (tương đương mức tăng lượng cung). Lượng cầu chiếm từ 83-87% lượng cung, lượng dự trữ của năm chiếm 13-17% tổng lượng cung ngô hàng năm.
Lượng ngô sử dụng cho chăn nuôi chiếm 60-70% tổng lượng tiêu thụ ngô của năm (Hồ Cao Việt và cs, 2014) [25]. Theo số liệu thống kê của USDA-FAS, năm 2016 lượng ngô tiêu thụ của thế giới là 1,021 tỷ tấn. Hai nước có diện tích cũng như sản lượng ngô đứng đầu thế giới là Hoa Kỳ và Trung Quốc lại là một trong 10 quốc gia tiêu thụ ngô lớn nhất. Lượng ngô tiêu thụ của hai quốc gia này đã chiếm 54% lượng tiêu thụ ngô trên thế giới.
Tổng lượng ngô tiêu thụ trên thế giới và một số quốc gia năm 2016 Tốc độ Tỷ lệ tăng Tỷ lệ tiêu tăng Lượng tiêu trưởng thụ so với trưởng giai Khu vực/Nước thụ (triệu trong giai thế giới đoạn 1990- tấn) đoạn 1990- (%) 2016 2016 (%/năm) Thế giới 1.021 - 116 3,00 Mỹ 315 31 105 2,81 Trung Quốc 231 23 189 4,17 Liên minh Châu Âu 73 7 - - Brazil 59 6 128 3,23 Mexico 39 4 153 3,64 Ấn Độ 23 2 153 3,63 Ai Cập 15 1 131 3,27 Nhật Bản 15 1 -8 -0,31 Canada 13 1 83 2,35 Việt Nam 13 1 1879 12,21 Nguồn: USDA-FAS, 2017 [39] Mỹ là nước có nhu cầu tiêu thụ nội địa lớn nhất, ngoài việc sử dụng ngô làm thức ăn cho chăn nuôi, sản lượng ngô còn dùng để sản xuất ethanol và những sản phẩm khác. Năm 2016, lượng ngô tiêu thụ của Mỹ là 315 triệu tấn, tốc độ tăng trưởng trong nhu cầu sử dụng ngô của Mỹ giai đoạn 1990- 2016 là 2,81% (USDA-FAS, 2017 [39]. Từ năm 2014, Trung Quốc đã đứng đầu thế giới về diện tích trồng ngô, nhưng nhu cầu sử dụng ngô của Trung Quốc cũng tăng lên. Giai đoạn 1990 - 2016, tiêu thụ ngô của Trung Quốc đã tăng trưởng với tốc độ trung bình 4,17%/năm, nhanh hơn so với thế giới 1,17%/năm (USDA-FAS, 2017 [39].
Một số nước khác nhu cầu tiêu thụ ngô cũng gia tăng như: Brazil, Mexicô, Ấn Độ, Eygpt và Việt Nam, trong đó tốc độ tăng trưởng nhanh 10 nhất là Việt Nam. Giai đoạn 1990-2016, tỷ lệ tăng trưởng trong tiêu thụ ngô ở Việt Nam là 12,21%/năm. Năm 2016, Việt Nam đã nằm trong nhóm 10 nước tiêu thụ ngô lớn nhất thế giới. Dự báo đến năm 2050 tổng nhu cầu ngô thế giới cần 1.178 triệu tấn, hơn 60% so với năm 2005-2007, cần gấp hai lần so với năm 2013 (Chaudhary and elal, 2014 [26]; Tony Fischer and elal, 2014) [32], trong đó Việt Nam nói riêng cần hơn 9,0 triệu tấn (Viện Nghiên cứu Ngô, 2015) [24].
Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô ở Việt Nam 1.