Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2009 - 2019, toàn quốc đã xảy ra 7.380 vụ cháy rừng, gây thiệt hại nghiêm trọng đến hơn 49.000 ha rừng, bình quân mỗi năm thiêu rụi gần 5.000 ha rừng và làm thất thoát hàng trăm tỷ đồng ngân sách. Tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, tổng diện tích tự nhiên đạt 83.796,18 ha, trong đó diện tích đất có rừng là 53.602,79 ha, chiếm tỷ lệ che phủ trên 63,97%. Địa bàn huyện sở hữu hệ sinh thái rừng tự nhiên đa dạng cùng Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén có giá trị bảo tồn sinh thái đặc biệt.

Mặc dù phần lớn diện tích rừng đã được giao khoán cho cộng đồng thôn xóm và hộ gia đình quản lý, nguy cơ cháy rừng tại Nguyên Bình vẫn diễn biến phức tạp. Địa hình đồi núi hiểm trở với độ dốc lớn, hiện tượng biến đổi khí hậu gây khô hạn kéo dài, cùng tập quán canh tác đốt nương làm rẫy của đồng bào dân tộc thiểu số (chiếm hơn 94% dân số toàn huyện) đã khiến nguy cơ bùng phát lửa rừng tăng cao trong mùa khô.

Luận văn thạc sĩ lâm học của tác giả Nguyễn Hùng Quốc, dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư Đặng Kim Vui và Tiến sĩ Đặng Kim Tuyến tại Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, tập trung giải quyết yêu cầu cấp bách về quản lý lửa rừng. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá toàn diện hiện trạng công tác phòng cháy chữa cháy rừng giai đoạn 2015 - 2019, phân tích các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến nguy cơ cháy, từ đó đề xuất các giải pháp kỹ thuật lâm sinh và quản lý thực tiễn cho giai đoạn 2020 - 2025. Nghiên cứu tập trung tại 3 xã trọng điểm gồm Ca Thành, Hưng Đạo và Quang Thành, mang lại cơ sở khoa học vững chắc nhằm bảo vệ 53.602,79 ha rừng, hạn chế tối đa thiệt hại tài nguyên và ổn định sinh kế cho người dân địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết nền tảng về tam giác lửa trong quản lý cháy rừng của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO). Theo nguyên lý này, sự cháy chỉ hình thành và duy trì khi có sự kết hợp đồng thời của 3 thành tố: oxy, nguồn nhiệt (nguồn lửa) và vật liệu cháy có độ ẩm dưới 25%. Nếu triệt tiêu hoặc làm suy giảm một trong ba yếu tố, đám cháy sẽ bị cô lập hoặc dập tắt hoàn toàn.

Khung phân tích nguy cơ cháy rừng kế thừa công thức tính chỉ tiêu khí tượng tổng hợp P của V. Nesterov, kết hợp hiệu chỉnh của Tiến sĩ Phạm Ngọc Hưng với ngưỡng lượng mưa ngày 5mm, đồng thời tham chiếu hệ số điều chỉnh tốc độ gió theo tiêu chuẩn A.N. Cooper (UNDP). Luận văn sử dụng thang phân cấp nguy cơ cháy rừng 5 cấp dựa trên độ ẩm vật liệu cháy của Tiến sĩ Thái Văn Trừng (từ Cấp I với độ ẩm 25% - 35% đến Cấp V với độ ẩm dưới 10%). Các khái niệm khoa học chủ chốt được vận dụng gồm:

  • Vật liệu cháy rừng (sinh khối thảm tươi, thảm khô, cành rơi lá rụng có khả năng bắt lửa).
  • Băng cản lửa (công trình lâm sinh ngăn chặn cháy lan mặt đất và cháy tán, bao gồm băng xanh và băng trắng).
  • Đốt trước có điều khiển (kỹ thuật chủ động làm giảm khối lượng vật liệu cháy trước mùa khô hạn theo nghiên cứu của Bế Minh Châu và Phùng Văn Khoa).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp điều tra hồi cứu số liệu thứ cấp và thực nghiệm ngoại nghiệp có đối chứng khoa học:

  • Thu thập dữ liệu khí tượng và diễn biến tài nguyên rừng: Kế thừa chuỗi số liệu quan trắc 5 năm (2015 - 2019) về nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, số giờ nắng từ Trạm Khí tượng Thủy văn Nguyên Bình và số liệu theo dõi cháy rừng của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cao Bằng.
  • Điều tra xã hội học bằng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA): Cỡ mẫu khảo sát gồm 10 cán bộ chuyên trách kiểm lâm/chính quyền địa phương và 160 chủ hộ gia đình có rừng tại 3 xã Ca Thành (55 hộ), Hưng Đạo (50 hộ), Quang Thành (55 hộ). Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên theo dân tộc (Tày, Nùng, Dao, H'Mông) và độ tuổi giúp đảm bảo tính đại diện khách quan cho toàn huyện.
  • Thiết lập ô tiêu chuẩn (OTC) và ô dạng bản (ODB) thực nghiệm: Lập các ô tiêu chuẩn tạm thời 1.000 m2 (25m x 40m) đối với rừng tự nhiên và 500 m2 (20m x 25m) đối với rừng trồng thông, keo từ 3 năm tuổi trở lên. Trong mỗi ô tiêu chuẩn, bố trí 5 ô dạng bản diện tích 25 m2 để đo đếm tầng cây bụi tái sinh và 5 ô dạng bản 1 m2 để thu thập mẫu vật liệu cháy.
  • Phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm: Thu thập 1 kg mẫu vật liệu cháy/OTC, tiến hành sấy khô ở nhiệt độ 105 độ C trong 6 đến 8 giờ cho đến khi khối lượng không đổi để tính độ ẩm tuyệt đối. Thực hiện đốt thử nghiệm trên các ô mẫu 9 m2 (3m x 3m) nhằm đo chiều cao ngọn lửa và tốc độ lan truyền nhiệt.
  • Phương pháp phân tích số liệu: Tổng hợp dữ liệu bằng phần mềm thống kê sinh học, phân tích tương quan giữa các yếu tố khí tượng với độ ẩm vật liệu cháy để xác lập biểu đồ phân vùng nguy cơ cháy.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu thực địa tại huyện Nguyên Bình trong giai đoạn 2015 - 2019 đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

  • Thứ nhất, mùa cháy rừng kéo dài 6 tháng, bắt đầu từ tháng 11 đến hết tháng 4 năm sau. Mùa khô chỉ chiếm 14,6% tổng lượng mưa cả năm (tổng lượng mưa trung bình năm đạt 1.592 mm), trong khi độ ẩm không khí trung bình giảm sâu, tháng 12 đạt mức thấp nhất khoảng 80,5%. Tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất (trung bình 13,6 độ C), thường xuyên xuất hiện băng giá tại các vùng núi cao như đỉnh Phia Oắc (1.931m), làm chết khô hàng loạt thảm thực bì và tầng cây bụi, tạo nên khối lượng vật liệu cháy khổng lồ.
  • Thứ hai, hoạt động nhân sinh là nguồn phát sinh lửa chủ đạo, chiếm trên 90% nguyên nhân các vụ cháy rừng trên địa bàn. Thói quen đốt dọn nương rẫy, hun khói bắt ong rừng và đốt lửa sưởi ấm khi chăn thả gia súc vào mùa đông của người dân sống ven rừng là những tác nhân trực tiếp gây cháy lan.
  • Thứ three, khối lượng vật liệu cháy tích lũy dưới tán rừng rất cao, dao động từ 6,5 tấn/ha đến trên 12,8 tấn/ha tùy theo trạng thái rừng. Vào cao điểm tháng 1 đến tháng 3, độ ẩm vật liệu cháy tại rừng thông thuần loài và rừng hỗn giao tre nứa giảm xuống dưới 15%, đẩy nguy cơ cháy lên Cấp IV (nguy hiểm) và Cấp V (cực kỳ nguy hiểm). Thử nghiệm đốt mẫu 9 m2 cho thấy ngọn lửa bùng phát dữ dội với chiều cao ngọn lửa đạt 1,5 - 2,2 mét chỉ sau 3 - 5 phút bén lửa.
  • Thứ tư, địa hình đồi núi chia cắt mạnh (90% diện tích có độ cao trên 700m, độ dốc trung bình trên 25 - 30 độ) kết hợp với việc thiếu hệ thống đường lâm nghiệp chuyên dụng đã cản trở nghiêm trọng khả năng cơ động của lực lượng cứu hỏa, kéo dài thời gian tiếp cận hiện trường từ 2 đến 4 giờ.

Thảo luận kết quả

Mối tương quan chặt chẽ giữa chu kỳ khí hậu và độ ẩm vật liệu cháy phản ánh đúng quy luật tự nhiên của vùng núi cao Đông Bắc. Dữ liệu được trực quan hóa qua biểu đồ nhiệt ẩm (biểu đồ ombrothermic) cho thấy đường biểu diễn lượng mưa cắt xuống dưới đường nhiệt độ trong suốt giai đoạn từ tháng 12 đến tháng 3, tạo nên khoảng trống sinh thái khô kiệt. Đồng thời, bảng phân cấp độ ẩm vật liệu cháy minh chứng rằng rừng lá kim (rừng thông) và các diện tích rừng phục hồi sau nương rẫy có tốc độ mất nước nhanh hơn 1,8 lần so với rừng tự nhiên lá rộng thường xanh nguyên sinh.

So sánh với các công trình nghiên cứu của Phạm Ngọc Hưng tại Quảng Ninh và Lê Thị Hiền tại các tỉnh miền Bắc, kết quả tại Nguyên Bình có nét đặc thù rõ rệt do tác động của hiện tượng tuyết rơi và sương muối đóng băng cục bộ. Lớp thực bì sau khi bị đóng băng sẽ rụi tàn đồng loạt, chuyển hóa thành lớp vật liệu bắt lửa cực kỳ nhạy bén khi gặp nắng hanh. Khảo sát 160 hộ dân cho thấy 68% người dân chưa nắm vững các quy định pháp luật về an toàn phòng cháy khi xử lý thực bì, cho thấy lỗ hổng lớn trong công tác khuyến nông - lâm và tuyên truyền cơ sở. Điều này khẳng định rằng việc phòng ngừa cháy rừng tại Nguyên Bình không thể chỉ dựa vào biện pháp kỹ thuật đơn thuần mà phải kết hợp chặt chẽ với giải pháp quản lý cộng đồng.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng cháy chữa cháy rừng trên địa bàn huyện Nguyên Bình trong giai đoạn 2020 - 2025, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  • Xây dựng hệ thống công trình lâm sinh cản lửa: Thiết lập mạng lưới băng xanh cản lửa có chiều rộng từ 15 đến 30 mét bao quanh các phân khu rừng trọng điểm và vùng giáp ranh nương rẫy. Sử dụng các loài cây bản địa lá rộng, có khả năng tích nước, chịu lửa cao như Tống quá sủ (Alnus nepalensis), Vối thuốc (Schima superba), Keo tai tượng (Acacia mangium) và Dứa bà (Agave americana). Đối với các tuyến đường mòn, đường ranh giới tiểu khu, tiến hành phát dọn băng trắng cản lửa rộng từ 6 đến 10 mét trước tháng 11 hàng năm.
  • Triển khai kỹ thuật xử lý vật liệu cháy có kiểm soát: Áp dụng biện pháp đốt trước có điều khiển đối với các diện tích rừng thông thuần loài và rừng trồng keo có nguy cơ cháy cao vào thời điểm đầu mùa khô (cuối tháng 10, đầu tháng 11). Kỹ thuật này giúp giảm 40% - 60% khối lượng chất dẫn cháy dưới tán rừng mà không gây phương hại đến tầng cây gỗ và vi sinh vật đất.
  • Hoàn thiện hệ thống cảnh báo sớm và giám sát công nghệ cao: Ứng dụng hệ thống theo dõi điểm cháy tự động qua vệ tinh (FireWatch Việt Nam) kết hợp tính toán chỉ số P hàng ngày tại 18 xã và 2 thị trấn. Lắp đặt thêm 5 biển báo dự báo cấp cháy rừng điện tử tại các trục giao thông chính (Quốc lộ 34, Tỉnh lộ 212) để người dân và du khách chủ động phòng ngừa.
  • Kiện toàn tổ chức và phát huy vai trò cộng đồng: Thành lập và duy trì hoạt động của 210 tổ đội xung kích bảo vệ rừng tại 210 xóm, mỗi tổ từ 15 đến 20 thành viên nòng cốt. Tổ chức ký cam kết an toàn phòng cháy rừng với 100% hộ dân canh tác nương rẫy giáp bìa rừng, đồng thời tổ chức diễn tập phương án chữa cháy rừng theo phương châm 4 tại chỗ ít nhất 1 lần/năm tại các xã trọng điểm như Ca Thành, Hưng Đạo.

Chủ thể thực hiện chính bao gồm Ủy ban nhân dân huyện Nguyên Bình, Hạt Kiểm lâm huyện, Ban Quản lý Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén cùng chính quyền cấp xã, phối hợp đồng bộ với các tổ chức đoàn thể địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả của luận văn mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và lực lượng Kiểm lâm: Hạt Kiểm lâm huyện Nguyên Bình, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cao Bằng và UBND các cấp có thể sử dụng số liệu phân vùng trọng điểm cháy làm căn cứ xây dựng phương án phòng cháy chữa cháy rừng hàng năm, phân bổ ngân sách trang thiết bị và bố trí các chốt trực gác lửa rừng hợp lý.
  • Ban quản lý rừng đặc dụng và rừng phòng hộ: Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén cùng các ban quản lý rừng lân cận có thể ứng dụng trực tiếp hướng dẫn kỹ thuật thiết kế băng xanh cản lửa đa tầng và quy trình xử lý thực bì dưới tán rừng trồng.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Lâm nghiệp: Là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu thực nghiệm vật liệu cháy, quy trình thiết lập ô tiêu chuẩn đo đếm sinh khối thảm tươi/thảm khô và phương pháp hiệu chỉnh chỉ số khí tượng Nesterov trong điều kiện địa hình núi cao.
  • Các tổ chức phát triển cộng đồng và dự án lâm nghiệp quốc tế: Cung cấp bức tranh thực tế về mối quan hệ giữa tập quán sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số với công tác quản trị tài nguyên rừng, hỗ trợ xây dựng các chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng và sinh kế bền vững.

Câu hỏi thường gặp

  • Mùa cháy rừng tại huyện Nguyên Bình diễn ra vào khoảng thời gian nào? Mùa cháy rừng tại Nguyên Bình kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, với giai đoạn đỉnh điểm khô hạn rơi vào từ tháng 12 đến tháng 3. Trong thời gian này, lượng mưa chỉ chiếm 14,6% tổng lượng mưa năm và độ ẩm không khí giảm xuống mức thấp nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho lửa bùng phát.

  • Tại sao độ ẩm vật liệu cháy dưới 25% lại là ngưỡng cực kỳ nguy hiểm? Theo quy luật cháy rừng, khi độ ẩm của vật liệu cháy giảm xuống dưới 25%, lớp cành khô và lá rụng mất khả năng cản nhiệt, khiến quá trình bắt lửa diễn ra gần như tức thì khi tiếp xúc với nguồn nhiệt nhỏ. Khi độ ẩm xuống dưới 15%, đám cháy có khả năng lan truyền cực nhanh với cường độ nhiệt rất lớn.

  • Những loài cây nào thích hợp nhất để trồng làm băng xanh cản lửa tại Cao Bằng? Các loài cây bản địa có tán lá rậm rạp, lá dày mọng nước, vỏ dày và khó bắt lửa như Tống quá sủ, Vối thuốc, Dứa bà và Keo tai tượng là những lựa chọn tối ưu. Những loài này vừa ngăn chặn tàn lửa bay qua tán vừa giữ ẩm tốt cho đất dưới chân băng cản lửa.

  • Biện pháp đốt trước có điều khiển được thực hiện như thế nào để đảm bảo an toàn? Kỹ thuật này được tiến hành vào đầu mùa khô (tháng 10 - 11), chọn ngày lặng gió, độ ẩm không khí trên 70%. Lực lượng kiểm lâm thu gom vật liệu cháy thành dải hoặc đám nhỏ cách xa gốc cây lớn, tiến hành đốt ngược hướng gió và luôn bố trí đầy đủ nhân lực, phương tiện dập lửa túc trực xung quanh.

  • Yếu tố địa hình gây khó khăn gì cho công tác chữa cháy rừng tại Nguyên Bình? Địa hình Nguyên Bình có đến 90% diện tích là núi cao trên 700 mét với độ dốc lớn từ 25 đến 30 độ và vách đá vôi hiểm trở. Địa hình này ngăn cản việc đưa xe chữa cháy cơ giới vào hiện trường, khiến việc vận chuyển nước và dụng cụ dập lửa hoàn toàn phải dựa vào sức người, làm chậm thời gian dập tắt đám cháy.

Kết luận

  • Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc về công tác quản lý lửa rừng tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2015 - 2019.
  • Xác định rõ mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là mùa cháy rừng trọng điểm, trong đó các đợt sương muối và băng giá mùa đông là nhân tố làm gia tăng đột biến khối lượng vật liệu cháy.
  • Khẳng định trên 90% nguyên nhân phát sinh cháy rừng bắt nguồn từ hoạt động sinh hoạt và canh tác nương rẫy của người dân, chỉ ra sự cần thiết phải gắn kết bảo vệ rừng với phát triển sinh kế.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp kỹ thuật lâm sinh và quản trị, nổi bật là quy hoạch băng xanh cản lửa bằng cây bản địa và ứng dụng công nghệ cảnh báo sớm.
  • Lộ trình triển khai khuyến nghị kéo dài từ năm 2021 đến 2025, hướng tới mục tiêu giảm thiểu tối đa số vụ cháy rừng trên địa bàn 18 xã và 2 thị trấn toàn huyện.

Công trình luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Hùng Quốc là một đóng góp thiết thực cho ngành lâm nghiệp vùng Đông Bắc. Kính mời các nhà quản lý, cán bộ nghiên cứu lâm sinh và độc giả quan tâm đón đọc toàn văn đề tài để áp dụng hiệu quả vào công tác bảo tồn tài nguyên rừng bền vững.