MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong chăn nuôi gia súc như trâu, bò, ngựa… thì việc nghiên cứu cỏ là công việc rất quan trọng, nó càng quan trọng hơn khi nền công nghiệp chăn nuôi ngày càng phát triển. Cỏ không những là nguồn thức ăn gia súc có chất lượng, rẻ tiền, phù hợp với điều kiện nhiều nước mà còn có tác dụng bảo vệ và cải tạo đất trồng dưới dạng này hay dạng khác. Đồng cỏ là kho dự trữ nguồn năng lượng tiềm tàng, gia súc sẽ chuyển hóa năng lượng trong đồng cỏ thành thức ăn.
Con người từ lâu đã biết khai thác đồng cỏ nhưng lúc đầu hoàn toàn dựa vào tự nhiên. Với nền nông nghiệp ngày càng phát triển, quy mô chăn nuôi ngày càng lớn, hình thức chăn thả tự nhiên như trước không thể đáp ứng được. Do đó con người đầu tư trí tuệ cho việc khai thác đồng cỏ bằng cách tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện từ đặc điểm sinh thái, sinh vật học đến phương thức cải tạo và sử dụng hợp lý để tạo ra sản phẩm, năng suất tối đa trên đơn vị diện tích đồng cỏ tự nhiên cũng như đồng cỏ trồng. Ở nước ta hiện nay, việc nghiên cứu về đặc điểm cỏ, các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất cỏ, tạo ra các giống cỏ mới cho năng suất cao…đã được chú trọng nhiều hơn khi quy mô chăn nuôi được mở rộng và phát triển theo hướng công nghiệp hóa vì cỏ là loại thức ăn quan trọng trong chăn nuôi gia súc bò, trâu, ngựa…Trong những năm gần đây, với các chương trình phát triển khoa học kĩ thuật và hợp tác chăn nuôi với các tổ chức quốc tế, nước ta đã nhập nhiều giống cây thức ăn hòa thảo và họ đậu có nguồn gốc nhiệt đới từ Philipin, Indonexia, Thái Lan… Một số giống cỏ nhập nội đã được đánh giá ban đầu là đạt kết quả tốt, năng suất cao và thích hợp với điều kiện khí hậu nước ta.
Một trong số đó phải kể đến là giống cỏ voi. Thái Nguyên là tỉnh trung du miền núi phía Bắc với ngành chăn nuôi khá phát triển, có trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi – Viện 1 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ chăn nuôi, còn gọi là Trại ngựa Bá Vân nằm ở thị xã Sông Công. Trại ngựa Bá Vân- Thái Nguyên là trung tâm nghiên cứu và phát triển giống vật nuôi, nơi đã và đang cung cấp không những cỏ voi mà còn nhiều giống cỏ trồng cho nông dân trong và ngoài tỉnh dễ trồng, có năng suất cao. Nơi đây có hệ sinh thái phù hợp cho việc trồng cỏ, đặc biệt chủ yếu là cỏ voi để cung cấp thức ăn cho gia súc, phù hợp cho chăn nuôi ngựa và trâu bò.
Để cỏ trồng đạt năng suất cao, chất lượng tốt khắc phục được tình trạng thiếu thức ăn cho gia súc đặc biệt trong mùa khô, cần phải chú ý đến các biện pháp, kĩ thuật chăm sóc hợp lí, cung cấp các yếu tố thuận lợi cho sinh trưởng phát triển của cỏ để đạt năng suất cao: yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, đất…Trong đó yếu tố độ ẩm có ảnh hưởng mạnh mẽ tới năng suất và cấu trúc năng suất của cỏ voi. Xuất phát từ những lý do trên tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đến năng suất và cấu trúc năng suất phần trên và phần dưới đất của cỏ voi tại Bá Vân - thị xã Sông Công - Tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đến năng suất và cấu trúc năng suất phần trên và phần dưới đất của cỏ voi tại trại ngựa Bá Vân nhằm điều chỉnh độ ẩm, cung cấp độ ẩm thích hợp cho các giai đoạn sinh trưởng và phát triển giúp nâng cao năng suất và cấu trúc năng suất của cỏ voi tại trại ngựa Bá Vân. 2 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới và Việt Nam Khái niệm về cây thức ăn xanh bao hàm cả cây thức ăn tự nhiên và các cây thức ăn trồng với mục đích sử dụng làm thức ăn gia súc. Theo Lê Văn An và Tôn Nữ Tiên Sa [1], cây thức ăn xanh bao gồm sản phẩm cây mùa vụ còn lại, cây hòa thảo, cây đậu, cây thân thảo hay thân gỗ có thể được sử dụng làm thức ăn cho gia súc, những cây này cũng có thể được sử dụng vào những mục đích khác nhau như bảo vệ đất, chống xói mòn, làm tăng độ màu mỡ của đất và hạn chế cỏ dại. Thức ăn xanh là loại thức ăn vô cùng quan trọng trong chăn nuôi, có thể chiếm từ 20 – 40% khẩu phần cho lợn, 70 – 100% khẩu phần của gia súc nhai lại và ngựa, 5 – 10% khẩu phần của gia cầm. Để phát triển chăn nuôi động vật nói chung và động vật nhai lại nói riêng, một trong những vấn đề hàng đầu cần giải quyết là nguồn thức ăn.
Có 2 phương pháp để cung cấp thức ăn dinh dưỡng cho gia súc nhai lại đó là nguồn thức ăn tinh và nguồn thức ăn thô xanh (trên 60% nhu cầu dinh dưỡng của gia súc nhai lại là thức ăn thô xanh). Chính vì vậy mà nguồn thức ăn thô xanh đặc biệt chú ý ở cả các nước phát triển và các nước đang phát triển. Việc phát triển đồng cỏ không chỉ cung cấp thức ăn tươi xanh cho gia súc mà còn dùng dự trữ thức ăn cho gia súc nuôi nhốt vào mùa khô. Cỏ là loại thức ăn chủ yếu của trâu bò, vì trong cỏ có đầy đủ chất dinh dưỡng như bột, đường, đạm, khoáng, vitamin mà các loại gia súc nhai lại có khả năng sử dụng và hấp thụ tốt.
Mặt khác, các chất dinh dưỡng trong cỏ không những rất cần thiết mà còn có tỉ lệ thích hợp với nhu cầu sinh lý của trâu bò. Ví dụ: Nếu tỉ lệ đường – đạm thích hợp nhất cho khẩu phần thức ăn của bò sữa là 1:1 thì tỉ lệ đó trong cỏ non thay đổi từ 1:1 đến 1,4:1 [2]. Cỏ còn là loại cây 3 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ thức ăn dễ sản xuất, có năng suất cao và tương đối ổn định, là nguồn nguyên liệu rẻ tiền góp phần làm giảm giá thành sản phẩm chăn nuôi, chưa kể ưu thế của các giống cỏ lâu năm thường chỉ cần gieo trồng 1 năm mà sử dụng được nhiều năm. Ví dụ: Giá thành cho 1kg cỏ Mộc Châu và cỏ lông Para trong 3 năm sử dụng là 0,037 và 0,035 đồng [10].
Họ hòa thảo quan trọng vì phân bố rộng rãi; chiếm tỉ lệ cao trong số thực vật trên đồng cỏ; có giá trị dinh dưỡng cao, nhất là lượng hydrocacbon và đặc biệt là các chất dinh dưỡng được bảo tồn, ít hao hụt khi thu hoạch. Các cây họ đậu tuy chiếm tỉ lệ ít hơn trong số cây làm thức ăn gia súc nhưng có vai trò quan trọng vì có giá trị dinh dưỡng cao, nhất là hàm lượng protein và khoáng, thích hợp cho việc chế biến thức ăn tinh bổ sung. Ở bãi cỏ tự nhiên với điều kiện thổ nhưỡng tốt thì 1kg cỏ tương ứng cung cấp được 16g protein tiêu hóa và 32g lipit; 8kg loại cỏ này tương đương 1 đơn vị thức ăn [24] Theo Meilroy (1972) cần chọn cỏ để làm thức ăn gia súc là khi thu hoạch dưới dạng này hay dạng khác phải đảm bảo các yêu cầu sau: - Cỏ phải có khả năng tái sinh mầm chồi còn lại sau mỗi lần thu hoạch. - Các tế bào sinh trưởng phải tập trung phần lớn ở các gốc, là các nơi thu hoạch ít bị ảnh hưởng tới.
- Cần sinh trưởng liên tục với khả năng chịu lạnh và chịu hạn cao. - Cần có thân ngầm để tạo điều kiện phát triển cả trên và dưới mặt đất. - Có hệ thống rễ phát triển để cho phép chịu đựng sự thu hoạch và đảm bảo lấy được dinh dưỡng đã được giải phóng hay phân hủy từ dưới. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới 1.
Tình hình phát triển đồng cỏ trên thế giới Đồng cỏ là kho dự trữ nguồn năng lượng tiềm tàng, gia súc sẽ chuyển hóa năng lượng chứa trong đồng cỏ thành thức ăn của con người. Con người từ lâu đã biết khai thác đồng cỏ. 4 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ Có nhiều quan niệm khác nhau về đồng cỏ. Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những đặc điểm cần có của loại hình đồng cỏ hoặc nhóm đặc điểm và cũng đưa ra hàng loạt định nghĩa về đồng cỏ.Felipe (1965) [35] những vùng đất rộng lớn, kể cả đồng bằng cũng như miền đồi núi, bao phủ bởi cỏ địa phương được sử dụng cho chăn thả quảng canh được gọi là bãi cỏ tự nhiên.
Còn đồng cỏ nhân tạo được xây dựng lên để thay thế bãi cỏ tự nhiên bằng cách trồng những loài cỏ có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao hơn (CIAT, 1978) [40]. Theo các nhà khoa học Liên Xô cũ: Thuật ngữ đồng cỏ là để chỉ những vùng đất đai rộng lớn, có ít cây gỗ và cũng không thích hợp với việc trồng trọt, thực vật sinh trưởng ở đây là cỏ để chăn nuôi. Theo các nhà khoa học Anh, Mĩ: Đồng cỏ là chỉ những vùng đất đai rộng lớn không có cây gỗ, không trồng các loại cây nông nghiệp, phần lớn là cỏ, thích hợp để kinh doanh ngành chăn nuôi.