phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng, 8 tiết. Những vấn đề chung về giám sát quyền lực trong hệ thống chính trị ở Việt Nam. Thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân hai cấp thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai. Định hƣớng và giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân hai cấp thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIÁM SÁT QUYỀN LỰC TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM 1. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ NIN VÀ TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƢỚC TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm quyền lực, quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước “Quyền lực chính trị” đƣợc coi là phạm trù trung tâm của khoa học chính trị.
Phạm trù “quyền lực” nói chung và “quyền lực chính trị” nói riêng là một phạm trù phức tạp, nhƣng nó là chìa khóa để giải thích một trong những hiện tƣợng phổ biến và bản chất nhất của đời sống xã hội. Đó là bằng cách nào để con ngƣời - những cá nhân khác nhau, không lặp lại nhau lại có thể sống thành cộng đồng (huyết thống, kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, lãnh thổ…). Vì thế, “quyền lực”, một mặt đƣợc hiểu qua phân tích khoa học, mặt khác, thậm chí là chủ yếu, đƣợc cảm nhận và trải nghiệm trong quá trình thực thi quyền lực, mà thực thi quyền lực chỉ là một vấn đề, một giai đoạn của quan hệ quyền lực. Trong lịch sử từ thời cổ đại đến cận đại đã có nhiều học giả đề cập đến quyền lực, quyền lực nhà nƣớc.
Tiêu biểu là học giả Hàn Phi Tử (280-232 TCN) quan niệm Thế là quyền lực, uy quyền của ngƣời làm vua. Hàn Phi Tử xem quyền lực nhƣ là chân lý, có quyền lực là có tất cả và mục đích chính của quyền lực là để giúp cho nhà lãnh đạo có đủ phƣơng tiện mƣu cầu quốc gia phú cƣờng bằng chính sách. Theo Hàn Phi quyền lực đƣợc hiểu theo góc độ cá nhân con ngƣời và vua chúa phải tuyệt đối nắm lấy quyền lực. Nhà triết học Aritxtôt ( 384 - 322 TCN), xem quyền lực là kết quả của sự thỏa thuận giữa mọi ngƣời dựa trên ý chí của họ nhằm mƣu cầu hạnh phúc.
Học giả Ôguýtxtanh ( 357 -430) ủng hộ một chế độ xã hội gắn kết song hành thần e 10 quyền, thế quyền thống trị ngƣời lao động và xem quyền lực là biểu hiện ý chúa. Lôccơ (1632-1704) trong tác phẩm Hai chuyên luận về nhà nước đã đƣa ra các kết luận quan trọng: “Quyền lực nhà nƣớc về bản chất là quyền lực của dân - về bản chất nhà nƣớc không có quyền mà chỉ là thực hiện sự ủy quyền của nhân dân. Nhà nƣớc - xã hội công dân, thực chất là một khế ƣớc xã hội - trong đó các công dân ủy quyền, nhƣờng một phần quyền của mình để hình thành quyền lực chung - quyền lực nhà nƣớc để nhà nƣớc với quyền lực chung đó điều hành, quản lý xã hội” [28]. Học giả Ph.Ăngghen ( 1820-1895) trong tác phẩm Bàn về quyền uy (1872), Ăngghen cho rằng, quyền uy là một hành vi để cƣỡng bức bộ phận khác phục tùng ý chí của mình.
Trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, Sở hữu tư nhân và nhà nước ( 1884), ông cũng đã chỉ ra nguồn gốc và bản chất của nhà nƣớc, đồng thời chứng minh sự tất yếu diệt vong của nhà nƣớc và xã hội có gia cấp nói chung. Nhƣ vậy, lịch sử thời cổ đại đến cận đại đã có rất nhiều học giả đƣa ra các quan niệm về quyền lực chính trị đƣợc thể hiện ở nhiều tác phẩm, các giai đoạn lịch sử khác nhau; tuy chƣa toàn diện, đầy đủ các cơ sở khoa học nhƣng đã tạo nền móng các quan điểm về quyền lực chính trị, quyền lực nhà nƣớc sau này. Giáo trình Quyền lực chính trị của tác giả Lê Minh Quân và Lƣu Minh Văn đã định nghĩa, quyền lực là mối quan hệ giữa các chủ thể hành động, trong đó chủ thể này có thể chi phối hoặc buộc chủ thể khác phải phục tùng ý chí của mình nhờ có sức mạnh, vị thế nào đó trong quan hệ xã hội. Là quyền sử dụng sức mạnh của một chủ thể (cá nhân, tổ chức, giai cấp hoặc toàn xã hội) buộc các chủ thể khác phải phục tùng ý chí của mình [30] Từ các phân tích trên, tác giả đồng ý với định nghĩa của Phan Xuân Sơn khi kết luận rằng, quyền lực là một loại quan hệ xã hội trong quá trình phối hợp hành động chung, trong quá trình đó, nhờ sở hữu các nguồn lực (các giá trị xã hội), chủ thể này có thể làm thay đổi nhận thức hành vi của chủ thể khác theo một mục đích nhất định [32, tr.
e 11 Quyền lực trong xã hội có cấu trúc phức tạp đƣợc tạo thành từ nhiều loại quyền lực khác nhau; đồng thời tồn tại, đan xen, thâm nhập và ảnh hƣởng lẫn nhau tạo thành một chỉnh thể quyền lực trong xã hội. Có ba loại quyền lực cơ bản sau: Quyền lực công cộng, quyền lực chính trị và quyền lực nhà nƣớc. Trong đó, Quyền lực chính trị là năng lực ( hay khả năng) của một chủ thể chính trị (giai cấp, tầng lớp xã hội) nhất định trong việc áp đặt mục tiêu chính trị của mình đối với xã hội [30]. Quyền lực chính trị là loại quyền lực của các giai cấp, các nhóm xã hội, các lực lƣợng xã hội dùng để tác động đến quá trình tổ chức và thực thi quyền lực nhà nƣớc nhằm tối đa hóa lợi ích của mình [32, tr.
Quyền lực chính trị chỉ hình thành trong xã hội có giai cấp và nhà nƣớc. Quyền lực chính trị phụ thuộc vào sự phát triển của sản xuất của phân công lao động xã hội và do đó phụ thuộc vào cơ cấu xã hội. Khi trình độ phát triển xã hội còn thấp, sự phân công lao động xã hội chƣa rộng, cơ cấu xã hội còn đơn giản thi quyền lực chính trị chỉ có từ vài ba giai cấp cơ bản của xã hội. Khi đó quyền lực chính trị của giai cấp thống trị về kinh tế - giai cấp nắm cơ bản về tƣ liệu sản xuất xã hội về cơ bản đã đƣợc tổ chức thành nhà nƣớc.
Cơ sở trực tiếp để hình thành nên quyền lực nhà nƣớc là quyền lực công (quyền lực công cộng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia có chủ quyền) và quyền lực chính trị của các giai cấp, các lực lƣợng trong xã hội, nhƣng cơ bản là của giai cấp thống trị về kinh tế. Quyền lực nhà nước là quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền được tổ chức dưới vỏ bọc công quyền ( hay có thể nói cách khác, đó là hình thúc biểu hiện quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền) [30]. Trong các xã hội có giai cấp, tùy vào khả năng và tƣơng quan lực lƣợng của mình, các giai cấp đều tìm cách giành quyền lực nhà nƣớc để hiện thực hóa lợi ích của giai cấp mình trên cơ sở và nhân danh thực hiện mục tiêu chung của xã hội. Đặc trƣng của quyền lực nhà nƣớc là vừa có tính công quyền (xã hội) vừa có tính chính trị (giai cấp).
Cho nên nhà nƣớc có chức năng xã hội và e 12 chức năng chính trị. Nhà nƣớc là cơ quan duy nhất trong xã hội đƣợc sử dụng những phƣơng tiện công. Nguồn gốc của quyền lực nhà nƣớc là quyền lực nhân dân nhƣng đƣợc tổ chức thành một bộ máy độc lập với nhân dân, đứng trên nhân dân. Bộ máy này thƣờng xuyên đứng trƣớc nguy cơ bị quan liêu hoá, lạm quyền, chuyên quyền…Vì vậy quyền lực nhà nƣớc luôn luôn phải đƣợc kiểm soát.
Cùng với sự thống trị của giai cấp, nhà nƣớc, hệ thống chính trị đã ra đời và thực hiện đƣờng lối chính trị của giai cấp cầm quyền, mang bản chất giai cấp của giai cấp cầm quyền. Hiện nay quan niệm về hệ thống chính trị còn rất khác nhau, phụ thuộc vào khuynh hƣớng, trƣờng phái chính trị học khác nhau. Ở phƣơng Tây có hai loại tiếp cận cơ bản, và từ hai loại tiếp cận cơ bản này phát triển thành một số quan điểm khác nhau về hệ thống chính trị. - Cách tiếp cận thể chế: coi HTCT là tập hợp các thể chế chính trị (gồm các tổ chức nhà nƣớc các tổ chức chính trị - xã hội) trong khuôn khổ đó diễn ra các chuẩn mực và hành vi chính trị.
- Cách tiếp cận hệ thống: HTCT không chỉ bao gồm các thể chế mà còn bao gồm các quan hệ giữa chúng, vận hành theo những cơ chế và nguyên tắc nhất định, nhằm thực thi quyền lực chính trị và quyền lực nhà nƣớc. Một số cách tiếp cận khác cho rằng, HTCT là cơ chế để thực hiện và giải quyết các vấn đề, đồng thời để hoạch định và kiểm soát sự thực hiện các quyết định cũng nhƣ kiểm soát các quan hệ quản lý của nhà nƣớc. Trong các tài liệu khoa học Xô Viết, cho đến giữa những năm 70 của thế kỷ XX thƣờng dùng các khái niệm "Các tổ chức chính trị của xã hội". Đầu những năm 80, khái niệm hệ thống chính trị đƣợc khẳng định trong các tài liệu triết học, chính trị học của Liên Xô.
Hệ thống chính trị đƣợc hiểu theo cách tiếp cận hình thái kinh tế - xã hội, là bộ phận của thƣợng tầng kiến trúc đƣợc quyết định bởi hạ tầng kinh tế, theo kết cấu xã hội giai cấp. Hệ thống chính trị là một kiểu e 13 xác định của hình thái kinh tế - xã hội. Theo Từ điển bách khoa Việt nam, hệ thống chính trị là khái niệm dùng để chỉ một chỉnh thể bao gồm các tổ chức như đảng chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội; với những quan hệ tác động qua lại giữa các nhân tố đó trong việc tham gia vào các quá trình hoạch định và thực thi các quyết sách chính trị nhằm bảo đảm quyền thống trị của giai cấp, lực lượng cầm quyền, đồng thời đáp ứng nhu cầu ổn định và phát triển xã hội [39, tr. Từ các phân tích nhƣ trên, có thể định nghĩa: Hệ thống chính trị là tổ hợp có tính chỉnh thể các thế chế chính trị (political institutes - các cơ quan quyền lực nhà nước, các đảng chính trị các phong trào xã hội, các tổ chức chính trị - xã hội.